Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Á SỪNG CHỮA BẰNG CÁCH NÀO

các bác sĩ cho cháu hỏi : cháu bị nứt nẻ các đầu ngón tay, da mỏng dần, vào mùa đông có thể bị bật máu, rất đau a.cháu đi khám nhiều nơi, họ bảo cháu bị bệnh á sừng nhưng chau đã dùng rất nhiều loại thuốc rồi mà ko khỏi .một người mách cháu bôi thuốc Diprosalic 15g (nguoi do da boi va khoi). chau đã bôi thử sau 1 ngày thi thấy da đầu ngón tay bị tróc hết ra, da mỏng dần và rất đau ạ .cháu không biết có nên dung thuốc này nữa ko .cháu rất mong nhận được lời khuyên từ các bác sĩ cháu rất buồn vì nghe nói bênh này ko thể chữa khỏi .cháu chân thành cảm ơn các bác sĩ

Trả lời: 
Á sừng gây nhiều sự khó chịu cho người bị bệnh



Tìm hiểu về bệnh Á sừng:
Á sừng là trạng thái lớp sừng chuyển hóa dở dang, tế bào còn nhân và nguyên sinh, chưa chuyển hóa hết thành sừng. Nếu không giữ gìn vệ sinh, người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát gây sưng tấy, Lớp sừng chuyển hóa dở dang gọi là lớp sừng non, sừng bở, sừng tạp, kém chất lượng.
Bệnh á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Lớp da ở những vị trí này thường khô ráp, róc da, nứt nẻ gây đau đớn
Lá chè tươi điều trị tốt á sừng

Vào mùa hè, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa đông, tình trạng nứt nẻ càng nặng, phần da bệnh dễ bị toác ra, rớm máu, nứt sâu ở gốc ngón gọi là đứt cổ gà, đi lại đau đớn. 

Nguyên nhân gây á sừng đến nay vẫn chưa xác định, song nhiều nhà khoa học cho rằng đó là do yếu tố di truyền trong gia đình hoặc thói quen dinh dưỡng thiếu cân đối từ bé. Thực tế cho thấy đại đa số các em mắc bệnh đều là ăn ít rau quả. Thiếu vitamin nhất là A, C, D, E... sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lớp sừng.

Phương pháp điều trị hiện nay là dùng các thuốc bôi bạt sừng, tạo sừng như axit salixilic, diprosalic, betnoval. Cần kết hợp với thuốc kháng sinh tác động ngay tại vùng da bệnh hoặc toàn thân nếu bị nhiễm khuẩn phụ, dùng các thuốc chống nấm nếu có nhiễm nấm như mỡ betamethazone (Diprosalic 15g), dẫn xuất imidazol, griseofulvin. Trường hợp nặng có thể phải dùng corticoid, kháng histamin.
Bạn đang sử dụng Diprosalic mà có tác dụng phụ là bào mòn da thì bạn nên bôi giảm liều, Thông tin đầy đủ của thuốc bạn tham khảo tại đây:

Ngoài ra bạn cần thực hiện một số điều như sau:

- Tránh bóc vẩy da, chọc nhể các mụn nước, chà sát kỳ cọ quá mạnh bằng đá kỳ, bàn chải..., làm xây xước lớp sừng tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn, nấm trên lớp sừng vốn đã kém sức đề kháng.

- Không nên ngâm rửa tay chân nhiều. Chú ý giữ khô các kẽ. Lớp sừng vốn đã bở nên càng ẩm ướt sẽ càng dễ bị vi khuẩn nấm tấn công.

- Hạn chế dùng xà phòng có độ tẩy mỡ cao ở tay chân. Khi tiếp xúc với xà phòng, xăng dầu cần đeo găng bảo vệ.

- Mùa đông nên đi tất đi găng tay sớm hơn người khác để bảo vệ lớp sừng ở lòng bàn tay, chân khỏi tác hại của biến đổi thời tiết đột ngột dễ làm nứt nẻ.

ĐIỀU TRỊ Á SỪNG BẰNG ĐÔNG Y


Anh trai tôi 30 tuổi . Cách đây 3 năm ( từ lúc 25 tuổi), em tôi có bị nổi trên mặt những hạt nhỏ, cứng có nhân màu trắng (giống mụn đá).Đi khám da liễu, bác sĩ nói em tôi bị bệnh á sừng , có cho 1 lọ thuốc nước có màu đà để bôi lên da (nay tôi không nhớ rõ tên thuốc), nói sẽ khỏi sau vài tháng nhưng đến nay em tôi vẫn không khỏi . Vừa rồi có đi khám lại tại bệnh viện da liễu , bác sĩ lại cho 1 ống kem , nói về bôi lên mặt 1 thời gian sẽ khỏi . Đã hơn 1 tháng nay rồi nhưng tôi thấy bôi cái đó lên mặt em tôi còn nổi nhiều hơn trước đây nữa . Vậy xin hỏi em tôi bị bệnh gì và phải điều trị ra sao ? Tôi xin chân thành cám ơn !


Trả lời: 

Bệnh á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Lớp da ở những vị trí này thường khô ráp, róc da, nứt nẻ gây đau đớn.
Chanh dừng để điều trị á sừng 





Bệnh không nguy hại đến sức khoẻ nhưng lại gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt hàng ngày. Được điều trị dứt điểm, bệnh sẽ dần ổn định. Tuy nhiên, nếu không tránh được các yếu tố nguy cơ, bệnh sẽ nhanh chóng tái phát và tình trạng bong tróc da ngày càng nặng nề hơn.

Để được điều trị tốt nhất, bạn nên đến chuyên khoa da liễu khám để được bác sĩ hướng dẫn cụ thể cách dùng thuốc. Sau liệu trình điều trị bằng thuốc, quan trọng nhất là bạn cần biết cách phòng tránh, hạn chế các yếu tố nguy cơ khiến bệnh nhanh tái phát. 
Ngâm chân bằng nước là chè điều trị á sừng hiệu quả
Người bệnh cần tránh những điều sau:

- Tuyệt đối không bóc vẩy da, chà xát kỳ cọ quá mạnh bằng đá kỳ, bàn chải. Khi cố gắng chịu đau chà hết lớp vẩy bong, bạn có thể thấy da đỡ sần sùi, nhẵn hơn nhưng thực tế không như vậy, việc bóc vẩy, chà xát mạnh này càng làm tổn thương lớp sừng, khiến quá trình bong da sau đó còn mạnh mẽ hơn.
Á sừng thường gặp ở người nội  chợ

- Hạn chế tối đa tiếp xúc với nước. Sau khi rửa chân tay, cần dùng khăn lau khô, nhất là các kẽ tay, kẽ chân. Nếu tiếp xúc với nước nhiều càng tạo thuận lợi để lớp sừng bong vảy. Khi chế biến thức ăn, tránh tiếp xúc với mỡ, gia vị như ớt, muối…. bằng cách đeo găng tay. Nếu lớp mỡ bám nhiều vào da càng khiến lớp sừng trở nên thô ráp, bong vảy. Hạn chế dùng xà phòng, chất tẩy rửa cao. Nếu buộc phải tiếp xúc cần đeo găng bảo vệ.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

ĐIỀU TRỊ Á SỪNG BẰNG THUỐC NAM

Bệnh Á sừng là gì?

Á sừng là trạng thái lớp sừng chuyển hóa dở dang, tế bào còn nhân và nguyên sinh, chưa chuyển hóa hết thành sừng. Lớp sừng chuyển hóa dở dang gọi là lớp sừng non, sừng bở, sừng tạp, kém chất lượng.
Khi bị á sừng người bệnh nên tránh không nên tiếp xúc vơi hóa chất
và nên quan tâm tới cơ thể không nên mặc đồ ẩm ướt


Bệnh Á Sừng không nguy hại đến sức khỏe nhưng lại gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt hàng ngày. Được điều trị dứt điểm, bệnh sẽ dần ổn định. Tuy nhiên, nếu không tránh được các yếu tố nguy cơ, bệnh sẽ nhanh chóng tái phát và tình trạng bong tróc da ngày càng nặng nề hơn.

Biểu hiện bệnh á sừng Bệnh á sừng

Là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Vùng bàn tay, chân bị á sừng thường khô ráp, tróc da, nứt nẻ ở ria, gót chân và đầu các ngón. Nếu không giữ gìn vệ sinh, người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát gây sưng tấy.
Người nội chợ hay bị mắc á sừng nhất vì những chủ quan về bệnh 
Vào mùa hè, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa đông, tình trạng nứt nẻ càng nặng, phần da bệnh dễ bị toác ra, rớm máu, nứt sâu ở gốc ngón gọi là đứt cổ gà, đi lại đau đớn.

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

ĐẬU NÀNH LÀ THẦN DƯỢC QUÝ

Từ lâu, Đông y đã đánh giá rất cao đậu nành, xem đậu nành là vị thuốc quý có thể giúp phòng trị nhiều căn bệnh nguy hiểm như tim mạch, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, ung thư…

“Dược thực lưỡng dụng”

Đậu nành, tên Hán-Việt là Hoàng đại đậu, có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau lan sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên... Theo Đông y, đậu nành có vị ngọt, khí bình, không độc, có công dụng kiện tỳ khoan trung (xúc tiến tiêu hóa), nhuận táo (chống táo bốn), tiêu thủy (tiêu thũng) và giải độc.
Khi kết hợp với các dược liệu khác, đậu nành trở thành bài thuốc quý, giúp chữa suy nhược cơ thể, đổ mồ hôi trộm (đậu nành, hạt tiểu mạch, táo tàu); chữa suy nhược thần kinh, giảm trí nhớ, ăn ngủ kém (đậu nành, liên nhục, hoài sơn, ý dĩ, sa nhân, sơn tra, cẩu tích)... Đông y cho rằng đậu nành là loại "dược thực lưỡng dụng", tức vừa có thể sử dụng làm thức ăn vừa được dùng làm thuốc.
Đậu nành - Dược liệu quý trong Đông y - 1
TINH CHẤT ĐẬU NÀNH
Hàm lượng đạm trong đậu nành rất cao và có đủ 8 loại axít amin, khoáng chất thiết yếu. Sữa đậu nành có tác dụng giảm huyết áp, giảm lượng cholesterol trong máu, ngăn ngừa khả năng xơ cứng động mạch và tốt cho tim mạch. Trong sữa đậu nành có nhiều axít béo không bão hòa có tác dụng không cho mỡ đóng tầng trong cơ thể và làm cho da dẻ hồng hào, tăng lượng vitamin B1 giúp da mặt ít nhăn. Cạnh đó, sữa đậu nành còn chứa hoạt chất isoflavone giúp chống lão hóa.
Y học hiện đại coi đậu nành là “thịt chay” vì rất giàu dưỡng chất, có thể thay thế thịt, cá. Đặc biệt, đậu nành vốn không có chứa chất béo bão hòa và chứa ít bột đường nên có khả năng hỗ trợ phòng trị béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch...

Sử dụng đậu nành an toàn

Trong số những chế phẩm từ đậu nành, sữa đậu nành được nhiều người sử dụng nhất. Tuy nhiên, để tận dụng hết những tính năng ưu việt của sữa đậu nành, cần lưu ý: Không uống sữa đậu nành khi đang đói; Trước và sau khi uống sữa đậu nành một giờ không nên ăn cam, quýt; Nên uống sữa đậu nành nhiều lần thay vì uống một lần quá nhiều...
Đặc biệt, nếu không thể tự nấu tại nhà, người tiêu dùng nên chọn mua những sản phẩm sữa đậu nành hộp giấy do các thương hiệu lớn như Vinasoy, Vinamilk, Tribeco, Tân Hiệp Phát… sản xuất theo công nghệ tiệt trùng UHT hiện đại, vừa an toàn vừa đảm bảo chất lượng tốt.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

CÂY MÔNG TRÂU ĐIỀU TRỊ BỆNH HIỆU QUẢ



Phân bố: Ở Việt Nam loài cây này phân bố từ Thanh Hoá đến Cà Mau, Phú Quốc, tập trung từ Kon Tum, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bình Phước và ở thành phố Hồ Chí Minh.
Cây mong trâu

Thu hái: Thu hoạch vào mùa hạ, hái lấy lá, phơi âm can, hoặc sấy nhẹ hay sao đến khô.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Cassiae alatae), quả, thân.

Công năng: Nhuận gan, tiêu độc, tiêu viêm, tiêu thực, nhuận tràng, sát trùng, chỉ dương (ngừng ngứa).

Công dụng: Chứng táo bón, nhiều đờm, phù thũng, đau gan, da vàng. Dùng ngoài chữa hắc lào, viêm da thần kinh, thấp chẩn.

Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 4-5 g (nhuận tràng), dạng thuốc sắc.
Dùng ngoài: Lượng thích hợp, rửa sạch và cạo tróc vẩy hắc lào, giã nát lá, lấy nước cốt bôi, một ngày 2 lần, hoặc lấy lá tươi vò, sát vào chỗ bị hắc lào.

Bài thuốc:

1. Chữa táo bón: Muồng trâu 20g, Chút chít 20g, Đại hoàng 4-6 g sắc uống trong ngày.

2. Chữa hắc lào:
Lá muồng trâu tươi giã nát, lấy nước bôi thêm ít muối hoặc dịch quả chanh tác dụng càng mạnh hơn.
Lá muồng trâu đem nghiền nát. Đổ vào đó nước đun sôi có pha natri fluorid, để yên trong 24h, rồi lọc qua vải. Thêm vào bã ít cồn 900, ngâm 24h rồi ép lấy cồn. Hợp cả cồn và nước lại, có tới độ cao mềm. Cao này có thể bảo quản không bị mốc do có natri fluorid. Có thể chế thuốc 1/5 từ cao.

3. Chữa thấp khớp: Muồng trâu 40g, vòi voi 30 g, Tang ký sinh, Quế chi, Dứa dại, dễ Cỏ xước, mỗi vị 20g. Sắc uống ngày 1 thang trong 7-10 ngày.

4. Chữa viêm thần kinh tọa: Muồng trâu 24g, cây lức 20g, Thần thông, rễ Nhàu, Kiến cò, mỗi vị 12g, Đỗ trọng 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Chữa ban trái (ban chẩn): Lá Muồng trâu 8g, Hương bài 10g, đọt Tre non, Ké đầu ngựa, Mùi tàu, cây Lức. mỗi vị 8g, Mức hoa trắng 6g, vỏ Quýt 4g, Đăng tâm 2g, sắc uống ngày 1 thang.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không nên dùng.

CÂY THUỐC CHI RAU HÙM ĐIỀU TRỊ THANH NHIỆT



Cây thảo sống lâu năm, cao 50 – 80 cm. Thân bò dài, có nhiều đốt. Lá mọc thẳng từ thân rễ, có phiến hình trái xoan nhọn, dài 25 – 60 cm, rộnh 7-20 cm, màu lục bóng, mép nguyên lượn sóng; cuống lá dài 10 – 30cm; hoa màu tím đen, mọc tụ họp thành tán trên một cán thẳng hay cong dài dài 10 -15cm; bao chung của tán có bốn lá bắc màu tím nâu, các lá bắc ngoài hình trái xoan, thuôn nhọn ở gốc; các sợi bất thụ dài tới 25cm. Hoa 15 – 20 đoá, màu tím đen; bao hoa có 6 thuỳ; nhị 6, màu tím đen; bầu dưới hình nón ngược, có 6 cạnh lồi. Quả không tự mở; hạt có 3 cạnh, màu đỏ tím. Ra hoa tháng 7 – 8, có quả tháng 9 –10. Mọc ở nơi ẩm ướt, nhiều mùn.

Cây thuốc nam Chi Râu hùm


Bộ phận dùng: Thân rễ. Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát phơi hay sấy khô.

Tính vị: Vị cay, tính mát, có ít độc.

Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết tán ứ. Dân gian dùng làm thuốc trị tê thấp.

Cách dùng và liều lượng: Dùng uống trong: sắc nước :10 – 12g. Dùng ngoài giã nát bôi hoặc nghiền vụn thành bột đắp.

Chữa tê thấp: Kinh nghiệm dân gian dùng 50g thân rễ Râu hùm khô giã nhỏ, trộn với 30g Bồ kết nướng giòn, tán bột, ngâm vào 1/3 lít rượu trong 1 – 2
tuần. Dùng rượu này xoa bóp vào chỗ tê đau, ngày 2 – 3 lần.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không được uống.

Tacca integrif olia ker – Gawl.- T. laevis Roxb: Ngải rợm, Cỏ râu hùm, Hạ túc.

Cây thảo, có thân rễ hình trụ, nhiều rễ. Lá thuôn, đầu nhọn dài hình đuôi, gốc thắt nhọn, dài 35 – 40cm, rộng 6 -15cm, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu lục nhạt ; cuống ngắn. Cụm hoa là tán trên một cán hoa dài, nhẵn, màu lục sẫm tía; bao chung gồm các lá bắc gần nhau; lá bắc con hình sợi, dài. Hoa 6 – 30, màu lục tím, có cuống dài. Bao hoa hình ống có 6 thùy rủ; nhị 6; bầu dưới hình nón ngược; đầu nhuỵ có 6 thuỳ. Quả thuôn, dài 2cm, có cạnh dọc biến thành cánh. Mọc ở nơi ẩm ướt, nhiều mùn.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

BÀI THUỐC QUÝ ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ


Bài thuốc chữa bệnh ung thư, ung bướu các loại, tẩy độc cho người không bị bệnh

Điều trị 
Các dạng Ung thư gan, Ung thư ruột, ung thư dạ dày, Ung thư tử cung, ung thư vú, não, nhức đầu, mất ngủ, nhức mỏi xương cốt, huyết áp cao, ho, nóng, viêm mũi
Các dạng Ung thư gan, Ung thư ruột, ung thư dạ dày, Ung thư tử cung, ung thư vú, não, nhức đầu, mất ngủ, nhức mỏi xương cốt, huyết áp cao, ho, nóng, viêm mũi
Một thang thuốc gồm 4 vị thuốc mua ở tiệm thuốc Bắc:

Bạch hoa xà 200g 
Bán chi liên 100g
Bông dừa cạn 50g
Trinh nữ hoàng cung 3 lá
Cách làm:
Rửa sạch thuốc trước khi nấu
Cho thuốc vào nồi, ấm đất, nhôm, gang đều được
Đổ vô 4 chén nước, sắc còn 1 chén
Cách uống:
Nước nhất: Uống buổi sáng
Nước nhì: Uống buổi chiều
Có thể nấu nước ba, nếu nấu nhiều nước, uống thay nước trà rất tốt
Nên để nguội hãy uống và uống trước bữa ăn 1 hay 2 giờ
Bài thuốc này nước thuốc làm mát gan, tiêu mỡ trong máu. Thành phần Bán Chi Liên và Bạch hòa xà Thiệt thảo là loại cỏ không độc, có tác dụng làm bài tiết các chất dơ bẩn trong cơ thể.

Ngoài ra còn 1 bài thuốc tương tự: 
1. Hồng táo: 8 quả lớn hay 10 quả nhỏ.
2. Bán chi liên: 1 lạng.
3. Bách hoa xà thiệt thảo: 2 lạng.
4. Bồ công anh: 2 lạng.
5. Lá thiết thụ (lá đu đủ): 1 ngọn (1 lá cả cọng).
Cách nấu và liều dùng:
- Lần thứ nhất: nấu 2 giờ liền, từ 2 lít còn lại 1,5 lít, để riêng ra.
- Lần thứ hai: nấu 2 giờ, 2 lít còn 1 lít.
Sau đó hòa nước đã nấu hai lần lại với nhau làm nước uống hằng ngày như ta vẫn dùng nước trà. Có thể uống liên tục trong 3 tháng.