Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Á SỪNG CHỮA BẰNG CÁCH NÀO

các bác sĩ cho cháu hỏi : cháu bị nứt nẻ các đầu ngón tay, da mỏng dần, vào mùa đông có thể bị bật máu, rất đau a.cháu đi khám nhiều nơi, họ bảo cháu bị bệnh á sừng nhưng chau đã dùng rất nhiều loại thuốc rồi mà ko khỏi .một người mách cháu bôi thuốc Diprosalic 15g (nguoi do da boi va khoi). chau đã bôi thử sau 1 ngày thi thấy da đầu ngón tay bị tróc hết ra, da mỏng dần và rất đau ạ .cháu không biết có nên dung thuốc này nữa ko .cháu rất mong nhận được lời khuyên từ các bác sĩ cháu rất buồn vì nghe nói bênh này ko thể chữa khỏi .cháu chân thành cảm ơn các bác sĩ

Trả lời: 
Á sừng gây nhiều sự khó chịu cho người bị bệnh



Tìm hiểu về bệnh Á sừng:
Á sừng là trạng thái lớp sừng chuyển hóa dở dang, tế bào còn nhân và nguyên sinh, chưa chuyển hóa hết thành sừng. Nếu không giữ gìn vệ sinh, người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát gây sưng tấy, Lớp sừng chuyển hóa dở dang gọi là lớp sừng non, sừng bở, sừng tạp, kém chất lượng.
Bệnh á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Lớp da ở những vị trí này thường khô ráp, róc da, nứt nẻ gây đau đớn
Lá chè tươi điều trị tốt á sừng

Vào mùa hè, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa đông, tình trạng nứt nẻ càng nặng, phần da bệnh dễ bị toác ra, rớm máu, nứt sâu ở gốc ngón gọi là đứt cổ gà, đi lại đau đớn. 

Nguyên nhân gây á sừng đến nay vẫn chưa xác định, song nhiều nhà khoa học cho rằng đó là do yếu tố di truyền trong gia đình hoặc thói quen dinh dưỡng thiếu cân đối từ bé. Thực tế cho thấy đại đa số các em mắc bệnh đều là ăn ít rau quả. Thiếu vitamin nhất là A, C, D, E... sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lớp sừng.

Phương pháp điều trị hiện nay là dùng các thuốc bôi bạt sừng, tạo sừng như axit salixilic, diprosalic, betnoval. Cần kết hợp với thuốc kháng sinh tác động ngay tại vùng da bệnh hoặc toàn thân nếu bị nhiễm khuẩn phụ, dùng các thuốc chống nấm nếu có nhiễm nấm như mỡ betamethazone (Diprosalic 15g), dẫn xuất imidazol, griseofulvin. Trường hợp nặng có thể phải dùng corticoid, kháng histamin.
Bạn đang sử dụng Diprosalic mà có tác dụng phụ là bào mòn da thì bạn nên bôi giảm liều, Thông tin đầy đủ của thuốc bạn tham khảo tại đây:

Ngoài ra bạn cần thực hiện một số điều như sau:

- Tránh bóc vẩy da, chọc nhể các mụn nước, chà sát kỳ cọ quá mạnh bằng đá kỳ, bàn chải..., làm xây xước lớp sừng tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn, nấm trên lớp sừng vốn đã kém sức đề kháng.

- Không nên ngâm rửa tay chân nhiều. Chú ý giữ khô các kẽ. Lớp sừng vốn đã bở nên càng ẩm ướt sẽ càng dễ bị vi khuẩn nấm tấn công.

- Hạn chế dùng xà phòng có độ tẩy mỡ cao ở tay chân. Khi tiếp xúc với xà phòng, xăng dầu cần đeo găng bảo vệ.

- Mùa đông nên đi tất đi găng tay sớm hơn người khác để bảo vệ lớp sừng ở lòng bàn tay, chân khỏi tác hại của biến đổi thời tiết đột ngột dễ làm nứt nẻ.

ĐIỀU TRỊ Á SỪNG BẰNG ĐÔNG Y


Anh trai tôi 30 tuổi . Cách đây 3 năm ( từ lúc 25 tuổi), em tôi có bị nổi trên mặt những hạt nhỏ, cứng có nhân màu trắng (giống mụn đá).Đi khám da liễu, bác sĩ nói em tôi bị bệnh á sừng , có cho 1 lọ thuốc nước có màu đà để bôi lên da (nay tôi không nhớ rõ tên thuốc), nói sẽ khỏi sau vài tháng nhưng đến nay em tôi vẫn không khỏi . Vừa rồi có đi khám lại tại bệnh viện da liễu , bác sĩ lại cho 1 ống kem , nói về bôi lên mặt 1 thời gian sẽ khỏi . Đã hơn 1 tháng nay rồi nhưng tôi thấy bôi cái đó lên mặt em tôi còn nổi nhiều hơn trước đây nữa . Vậy xin hỏi em tôi bị bệnh gì và phải điều trị ra sao ? Tôi xin chân thành cám ơn !


Trả lời: 

Bệnh á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Lớp da ở những vị trí này thường khô ráp, róc da, nứt nẻ gây đau đớn.
Chanh dừng để điều trị á sừng 





Bệnh không nguy hại đến sức khoẻ nhưng lại gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt hàng ngày. Được điều trị dứt điểm, bệnh sẽ dần ổn định. Tuy nhiên, nếu không tránh được các yếu tố nguy cơ, bệnh sẽ nhanh chóng tái phát và tình trạng bong tróc da ngày càng nặng nề hơn.

Để được điều trị tốt nhất, bạn nên đến chuyên khoa da liễu khám để được bác sĩ hướng dẫn cụ thể cách dùng thuốc. Sau liệu trình điều trị bằng thuốc, quan trọng nhất là bạn cần biết cách phòng tránh, hạn chế các yếu tố nguy cơ khiến bệnh nhanh tái phát. 
Ngâm chân bằng nước là chè điều trị á sừng hiệu quả
Người bệnh cần tránh những điều sau:

- Tuyệt đối không bóc vẩy da, chà xát kỳ cọ quá mạnh bằng đá kỳ, bàn chải. Khi cố gắng chịu đau chà hết lớp vẩy bong, bạn có thể thấy da đỡ sần sùi, nhẵn hơn nhưng thực tế không như vậy, việc bóc vẩy, chà xát mạnh này càng làm tổn thương lớp sừng, khiến quá trình bong da sau đó còn mạnh mẽ hơn.
Á sừng thường gặp ở người nội  chợ

- Hạn chế tối đa tiếp xúc với nước. Sau khi rửa chân tay, cần dùng khăn lau khô, nhất là các kẽ tay, kẽ chân. Nếu tiếp xúc với nước nhiều càng tạo thuận lợi để lớp sừng bong vảy. Khi chế biến thức ăn, tránh tiếp xúc với mỡ, gia vị như ớt, muối…. bằng cách đeo găng tay. Nếu lớp mỡ bám nhiều vào da càng khiến lớp sừng trở nên thô ráp, bong vảy. Hạn chế dùng xà phòng, chất tẩy rửa cao. Nếu buộc phải tiếp xúc cần đeo găng bảo vệ.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

ĐIỀU TRỊ Á SỪNG BẰNG THUỐC NAM

Bệnh Á sừng là gì?

Á sừng là trạng thái lớp sừng chuyển hóa dở dang, tế bào còn nhân và nguyên sinh, chưa chuyển hóa hết thành sừng. Lớp sừng chuyển hóa dở dang gọi là lớp sừng non, sừng bở, sừng tạp, kém chất lượng.
Khi bị á sừng người bệnh nên tránh không nên tiếp xúc vơi hóa chất
và nên quan tâm tới cơ thể không nên mặc đồ ẩm ướt


Bệnh Á Sừng không nguy hại đến sức khỏe nhưng lại gây nhiều phiền toái cho sinh hoạt hàng ngày. Được điều trị dứt điểm, bệnh sẽ dần ổn định. Tuy nhiên, nếu không tránh được các yếu tố nguy cơ, bệnh sẽ nhanh chóng tái phát và tình trạng bong tróc da ngày càng nặng nề hơn.

Biểu hiện bệnh á sừng Bệnh á sừng

Là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Vùng bàn tay, chân bị á sừng thường khô ráp, tróc da, nứt nẻ ở ria, gót chân và đầu các ngón. Nếu không giữ gìn vệ sinh, người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát gây sưng tấy.
Người nội chợ hay bị mắc á sừng nhất vì những chủ quan về bệnh 
Vào mùa hè, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa đông, tình trạng nứt nẻ càng nặng, phần da bệnh dễ bị toác ra, rớm máu, nứt sâu ở gốc ngón gọi là đứt cổ gà, đi lại đau đớn.

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

ĐẬU NÀNH LÀ THẦN DƯỢC QUÝ

Từ lâu, Đông y đã đánh giá rất cao đậu nành, xem đậu nành là vị thuốc quý có thể giúp phòng trị nhiều căn bệnh nguy hiểm như tim mạch, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, ung thư…

“Dược thực lưỡng dụng”

Đậu nành, tên Hán-Việt là Hoàng đại đậu, có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau lan sang Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên... Theo Đông y, đậu nành có vị ngọt, khí bình, không độc, có công dụng kiện tỳ khoan trung (xúc tiến tiêu hóa), nhuận táo (chống táo bốn), tiêu thủy (tiêu thũng) và giải độc.
Khi kết hợp với các dược liệu khác, đậu nành trở thành bài thuốc quý, giúp chữa suy nhược cơ thể, đổ mồ hôi trộm (đậu nành, hạt tiểu mạch, táo tàu); chữa suy nhược thần kinh, giảm trí nhớ, ăn ngủ kém (đậu nành, liên nhục, hoài sơn, ý dĩ, sa nhân, sơn tra, cẩu tích)... Đông y cho rằng đậu nành là loại "dược thực lưỡng dụng", tức vừa có thể sử dụng làm thức ăn vừa được dùng làm thuốc.
Đậu nành - Dược liệu quý trong Đông y - 1
TINH CHẤT ĐẬU NÀNH
Hàm lượng đạm trong đậu nành rất cao và có đủ 8 loại axít amin, khoáng chất thiết yếu. Sữa đậu nành có tác dụng giảm huyết áp, giảm lượng cholesterol trong máu, ngăn ngừa khả năng xơ cứng động mạch và tốt cho tim mạch. Trong sữa đậu nành có nhiều axít béo không bão hòa có tác dụng không cho mỡ đóng tầng trong cơ thể và làm cho da dẻ hồng hào, tăng lượng vitamin B1 giúp da mặt ít nhăn. Cạnh đó, sữa đậu nành còn chứa hoạt chất isoflavone giúp chống lão hóa.
Y học hiện đại coi đậu nành là “thịt chay” vì rất giàu dưỡng chất, có thể thay thế thịt, cá. Đặc biệt, đậu nành vốn không có chứa chất béo bão hòa và chứa ít bột đường nên có khả năng hỗ trợ phòng trị béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch...

Sử dụng đậu nành an toàn

Trong số những chế phẩm từ đậu nành, sữa đậu nành được nhiều người sử dụng nhất. Tuy nhiên, để tận dụng hết những tính năng ưu việt của sữa đậu nành, cần lưu ý: Không uống sữa đậu nành khi đang đói; Trước và sau khi uống sữa đậu nành một giờ không nên ăn cam, quýt; Nên uống sữa đậu nành nhiều lần thay vì uống một lần quá nhiều...
Đặc biệt, nếu không thể tự nấu tại nhà, người tiêu dùng nên chọn mua những sản phẩm sữa đậu nành hộp giấy do các thương hiệu lớn như Vinasoy, Vinamilk, Tribeco, Tân Hiệp Phát… sản xuất theo công nghệ tiệt trùng UHT hiện đại, vừa an toàn vừa đảm bảo chất lượng tốt.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

CÂY MÔNG TRÂU ĐIỀU TRỊ BỆNH HIỆU QUẢ



Phân bố: Ở Việt Nam loài cây này phân bố từ Thanh Hoá đến Cà Mau, Phú Quốc, tập trung từ Kon Tum, Đắc Lắc, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bình Phước và ở thành phố Hồ Chí Minh.
Cây mong trâu

Thu hái: Thu hoạch vào mùa hạ, hái lấy lá, phơi âm can, hoặc sấy nhẹ hay sao đến khô.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Cassiae alatae), quả, thân.

Công năng: Nhuận gan, tiêu độc, tiêu viêm, tiêu thực, nhuận tràng, sát trùng, chỉ dương (ngừng ngứa).

Công dụng: Chứng táo bón, nhiều đờm, phù thũng, đau gan, da vàng. Dùng ngoài chữa hắc lào, viêm da thần kinh, thấp chẩn.

Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 4-5 g (nhuận tràng), dạng thuốc sắc.
Dùng ngoài: Lượng thích hợp, rửa sạch và cạo tróc vẩy hắc lào, giã nát lá, lấy nước cốt bôi, một ngày 2 lần, hoặc lấy lá tươi vò, sát vào chỗ bị hắc lào.

Bài thuốc:

1. Chữa táo bón: Muồng trâu 20g, Chút chít 20g, Đại hoàng 4-6 g sắc uống trong ngày.

2. Chữa hắc lào:
Lá muồng trâu tươi giã nát, lấy nước bôi thêm ít muối hoặc dịch quả chanh tác dụng càng mạnh hơn.
Lá muồng trâu đem nghiền nát. Đổ vào đó nước đun sôi có pha natri fluorid, để yên trong 24h, rồi lọc qua vải. Thêm vào bã ít cồn 900, ngâm 24h rồi ép lấy cồn. Hợp cả cồn và nước lại, có tới độ cao mềm. Cao này có thể bảo quản không bị mốc do có natri fluorid. Có thể chế thuốc 1/5 từ cao.

3. Chữa thấp khớp: Muồng trâu 40g, vòi voi 30 g, Tang ký sinh, Quế chi, Dứa dại, dễ Cỏ xước, mỗi vị 20g. Sắc uống ngày 1 thang trong 7-10 ngày.

4. Chữa viêm thần kinh tọa: Muồng trâu 24g, cây lức 20g, Thần thông, rễ Nhàu, Kiến cò, mỗi vị 12g, Đỗ trọng 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

5. Chữa ban trái (ban chẩn): Lá Muồng trâu 8g, Hương bài 10g, đọt Tre non, Ké đầu ngựa, Mùi tàu, cây Lức. mỗi vị 8g, Mức hoa trắng 6g, vỏ Quýt 4g, Đăng tâm 2g, sắc uống ngày 1 thang.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không nên dùng.

CÂY THUỐC CHI RAU HÙM ĐIỀU TRỊ THANH NHIỆT



Cây thảo sống lâu năm, cao 50 – 80 cm. Thân bò dài, có nhiều đốt. Lá mọc thẳng từ thân rễ, có phiến hình trái xoan nhọn, dài 25 – 60 cm, rộnh 7-20 cm, màu lục bóng, mép nguyên lượn sóng; cuống lá dài 10 – 30cm; hoa màu tím đen, mọc tụ họp thành tán trên một cán thẳng hay cong dài dài 10 -15cm; bao chung của tán có bốn lá bắc màu tím nâu, các lá bắc ngoài hình trái xoan, thuôn nhọn ở gốc; các sợi bất thụ dài tới 25cm. Hoa 15 – 20 đoá, màu tím đen; bao hoa có 6 thuỳ; nhị 6, màu tím đen; bầu dưới hình nón ngược, có 6 cạnh lồi. Quả không tự mở; hạt có 3 cạnh, màu đỏ tím. Ra hoa tháng 7 – 8, có quả tháng 9 –10. Mọc ở nơi ẩm ướt, nhiều mùn.

Cây thuốc nam Chi Râu hùm


Bộ phận dùng: Thân rễ. Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát phơi hay sấy khô.

Tính vị: Vị cay, tính mát, có ít độc.

Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm chỉ thống, lương huyết tán ứ. Dân gian dùng làm thuốc trị tê thấp.

Cách dùng và liều lượng: Dùng uống trong: sắc nước :10 – 12g. Dùng ngoài giã nát bôi hoặc nghiền vụn thành bột đắp.

Chữa tê thấp: Kinh nghiệm dân gian dùng 50g thân rễ Râu hùm khô giã nhỏ, trộn với 30g Bồ kết nướng giòn, tán bột, ngâm vào 1/3 lít rượu trong 1 – 2
tuần. Dùng rượu này xoa bóp vào chỗ tê đau, ngày 2 – 3 lần.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không được uống.

Tacca integrif olia ker – Gawl.- T. laevis Roxb: Ngải rợm, Cỏ râu hùm, Hạ túc.

Cây thảo, có thân rễ hình trụ, nhiều rễ. Lá thuôn, đầu nhọn dài hình đuôi, gốc thắt nhọn, dài 35 – 40cm, rộng 6 -15cm, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu lục nhạt ; cuống ngắn. Cụm hoa là tán trên một cán hoa dài, nhẵn, màu lục sẫm tía; bao chung gồm các lá bắc gần nhau; lá bắc con hình sợi, dài. Hoa 6 – 30, màu lục tím, có cuống dài. Bao hoa hình ống có 6 thùy rủ; nhị 6; bầu dưới hình nón ngược; đầu nhuỵ có 6 thuỳ. Quả thuôn, dài 2cm, có cạnh dọc biến thành cánh. Mọc ở nơi ẩm ướt, nhiều mùn.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

BÀI THUỐC QUÝ ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ


Bài thuốc chữa bệnh ung thư, ung bướu các loại, tẩy độc cho người không bị bệnh

Điều trị 
Các dạng Ung thư gan, Ung thư ruột, ung thư dạ dày, Ung thư tử cung, ung thư vú, não, nhức đầu, mất ngủ, nhức mỏi xương cốt, huyết áp cao, ho, nóng, viêm mũi
Các dạng Ung thư gan, Ung thư ruột, ung thư dạ dày, Ung thư tử cung, ung thư vú, não, nhức đầu, mất ngủ, nhức mỏi xương cốt, huyết áp cao, ho, nóng, viêm mũi
Một thang thuốc gồm 4 vị thuốc mua ở tiệm thuốc Bắc:

Bạch hoa xà 200g 
Bán chi liên 100g
Bông dừa cạn 50g
Trinh nữ hoàng cung 3 lá
Cách làm:
Rửa sạch thuốc trước khi nấu
Cho thuốc vào nồi, ấm đất, nhôm, gang đều được
Đổ vô 4 chén nước, sắc còn 1 chén
Cách uống:
Nước nhất: Uống buổi sáng
Nước nhì: Uống buổi chiều
Có thể nấu nước ba, nếu nấu nhiều nước, uống thay nước trà rất tốt
Nên để nguội hãy uống và uống trước bữa ăn 1 hay 2 giờ
Bài thuốc này nước thuốc làm mát gan, tiêu mỡ trong máu. Thành phần Bán Chi Liên và Bạch hòa xà Thiệt thảo là loại cỏ không độc, có tác dụng làm bài tiết các chất dơ bẩn trong cơ thể.

Ngoài ra còn 1 bài thuốc tương tự: 
1. Hồng táo: 8 quả lớn hay 10 quả nhỏ.
2. Bán chi liên: 1 lạng.
3. Bách hoa xà thiệt thảo: 2 lạng.
4. Bồ công anh: 2 lạng.
5. Lá thiết thụ (lá đu đủ): 1 ngọn (1 lá cả cọng).
Cách nấu và liều dùng:
- Lần thứ nhất: nấu 2 giờ liền, từ 2 lít còn lại 1,5 lít, để riêng ra.
- Lần thứ hai: nấu 2 giờ, 2 lít còn 1 lít.
Sau đó hòa nước đã nấu hai lần lại với nhau làm nước uống hằng ngày như ta vẫn dùng nước trà. Có thể uống liên tục trong 3 tháng.


CÂY THUỐC ĐÔNG Y CÓC MẲN MỌC KHẮP NƠI




Cây cóc mẳn là cây thuốc mọc hoang khắp nơi. Thường hay gặp ở những nơi ẩm thấp, ruộng bỏ hoang, bờ rãnh, ven đường. Cây này có rất nhiều tên khác như “Cúc ma” “Cỏ the” “Cây thuốc mộng” “ cây Trăm chân” “cỏ lưỡi rắn” “Cầu tử thảo”.
Cóc mẳn là một loại cây cỏ nhỏ, thân mềm, mọc bò lan, cành mọc lòa xòa mọc sát mặt đất, phân rất nhiều cành, ở ngọn có lông trắng mịn, nhưng tòan thân trông nhẵn bóng. Cây thuốc này có vị cay, tính ấm, vào kinh thủ thái âm. Có tác dụng trừ phong, tán hàn, thắng thấp, thông mũi.



Dưới đây là một số công dụng mà cây thuốc này mang lại:

Phòng trị cảm cúm:

Dịch chiết và nước sắc cóc mẳn có tác dụng ức chế khá mạnh đối với sự sinh trưởng của virut cúm, chữa bệnh cúm rất hiệu quả

- Dùng 100g cóc mẳn tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút rượu trắng, chia 2 lần uống trong ngày, uống ấm. Có tác dụng phong tán hàn


- Vò nát cây Cóc mẳn tươi, vê tròn rồi nhét vào lỗ mũi. Tác dụng thông mũi, tiêu viêm rất tốt
- Vò nát cây Cóc mẳn tươi 20-25g (khô 10g), tân di hoa 8g, sắc lấy nước đặc, nhỏ mũi 3-4 lần.

Ngoài việc chữa viêm mũi dị ứng, cây thuốc trên cũng có tác dụng khá tốt đối với các loại viêm mũi khác, như viêm mũi cấp, viêm mũi đơn thuần, viêm xoang mũi.

Chữa ho gió: Cóc mẳn (khô 15g hoặc 30g tươi), nước 500ml, sắc còn 100ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa trĩ, lở loét sưng đau: Dùng Cóc mẳn 1 nắm giã đắp

Cóc mẳn chữa bệnh trĩ, ho gió và mụn nhọt hiệu quả

Chữa nhọt độc: Dùng Cóc mẳn 1 nắm (khỏang 15-20g) Xuyên sơn giáp 2g , Đương vĩ quy 9g, thêm 1 bát rượu, giã vắt lấy nước uống, bã đắp lên nhọt.

CÂY CẨM CÚ VỊ THUỐC ĐÔNG Y


Cây cẩm cù

Cây cẩm cù (Hoya carnosa) còn gọi là cây lan sáp, lan cầu lông, lan câu, lan anh đào. Nguyên sản ở nam Trung Quốc, Đông Nam Á v à châu Đại Dương, thuộc cây dây leo, cao 7m. Thân mềm, các đốt có rễ. Lá dày, hình bầu dục, đầu lá nhọn, gân bên không rõ, mọc đối. Hoa mọc nách, rủ, hoa tự hình cầu nên còn gọi là lan cầu. 
Hoa màu trắng, nhụy màu đỏ nhạt, có mùi thơm, tràng hoa tựa như hoa anh đào, xếp thành hình tán, nên còn gọi là lan anh đào. Cùng chi còn có nhiều loài như cẩm cù lùn (H. belta) cẩm cù thơm (H. zyi) cẩm cù úc (H. australis), và rất nhiều biến loại như cẩm cù 3 màu, cẩm cù cuốn Cây cẩm cù ưa nhiệt độ cao, ẩm và nửa bóng, chịu rét và chịu hạn cao.
Nhân giống cây cẩm cù bằng cách giâm cành và chiết cây. Chọn cành có 2-3 đốt, hái hết lá trên mắt, phía dưới chỉ cắt 1/2 lá rồi cắm vào cát hoặc đất chậu, sau 20 ngày ra rễ. Sau khi cây sống thì trồng vào chậu. Đất chậu thường dùng là đất lá mục, than bùn và cát thô. Mỗi chậu trồng 3-4 cây. Cây lớn mỗi năm ta thay chậu 1 lần. 
Khi nuôi trồng cây cẩm cù ta chú ý điều chỉnh ánh sáng, nên để nơi có bóng râm. Mùa hè nhiệt độ cao cần bảo đảm độ ẩm cao mới sin trưởng tốt, cần phun nước lên lá. Hai tháng tưới nước phân N 1 lần. 
Cần hái ngọn để cho ra nhiều nhánh hái hoa héo để cho ra hoa mới. Hoa cẩm cù có lá và hoa rất đặc thù, màu thanh nhã; gần đây người ta treo trong nhà tạo nên cây cảnh đẹp. Cả cây có thể dùng làm thuốc chữa bệnh.

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

CÂY BẠC HÀ CHỮA BỆNH HO CẢM

1. Tên khoa học: Mentha arvensis L. (Bạc hà Á), hoặc Mentha piperita L. (Bạc hà Âu),
2. Họ: Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.
3. Tên khác:
4. Mô tả:
Cây bạc hà


Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan, loại thân đứng mang lá, cao 30-40cm, có khi hơn, mầu xanh lục hoặc tím tía. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng. Cuống ngắn. Mép lá khía răng đều. Hoa nhỏ, mầu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa. Lá bắc nhỏ, hình dùi. Đài hình chuông có 5 răng đều nhau. Tràng có ống ngắn. Phiến tràng chia làm 4 phần gần bằng nhau, có 1 vòng lông ở phía trong. 4 nhụy bằng nhau, chi nhụy nhẵn. Quả bế có 4 hạt. Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lông bài tiết tinh dầu.
Mùa hoa quả vào tháng 7 - 10.
5. Phân bố:
Cây của vùng Âu Á ôn đới. Ở nước ta có những cây mọc hoang ở miền núi, nơi đất ẩm, mát và những chủng nhập trồng ở nhiều nơi.. 
6. Trồng trọt:
Cây ưa đất xốp, tốt nhất là đất sét có nhiều mùn, ẩm ướt, thoát nước nhưng đủ độ ẩm. Đất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2-3 hàng. Có thể trồng quanh năm nhưng thường trồng vào 2 mùa là mùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 8-9), trồng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất. Trồng bằng hạt (ít áp dụng), thân ngầm hoặc thân cây trên mặt đất, cắt đoạn dài 15-30cm. Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3-4 lần; lần thứ nhất vào tháng 6-7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều. Hái về, cần bó lại từng bó, phơi chỗ mát cho khô, hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hoặc để hơi héo rồi cất.
7. Bộ phận dùng:
Thân, cành mang lá (Herba Menthae)
8. Thu hái, chế biến:
Thu hái vào khoảng tháng 5, 8, 11 thu hoạch lúc cây mới ra hoa, rửa sạch dùng tươi hoặc phơi trong râm cho khô.
Lấy lá Bạc hà khô, tẩm nước, để vào chỗ râm mát, khi lá cây mềm, cắt ngắn từng đoạn, phơi trong râm cho khô để dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Rửa qua, để ráo nước, cắt ngắn chừng 2cm, phơi trong râm cho khô (Dược Liệu Việt Nam).
9. Thành phần hoá học chính:
Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là menthol.
10. Tác dụng dược lý:
Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Bạc hà có tác dụng ức chế đối với virus ECHO và Salmonella Typhoit (Trung Dược Học).
Tác dụng trên cơ trơn: Menthol và Menthone có tác dụng ức chế trên ruột thỏ, Menthone có tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).
Ức chế đau: Tinh dầu Bạc hà và Menthol bốc hơi nhanh, gây cảm giác mát và tê tại chỗ, dùng trong trường hợp đau dây thần kinh (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Sát khuẩn mạnh: dùng trong những trường hợp ngứa của 1 số bệnh ngoài da, bệnh về tai, mũi, họng (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Ức chế hô hấp, tuần hoàn: đối với trẻ em ít tuổi, tinh dầu Bạc hà và Menthol bôi vào mũi hoặc cổ họng có thể gây hiện tượng ức chế dẫn tới ngừng thở và tim ngưng đập hoàn toàn. Người ta đã nhận xét thấy 1 số trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu Menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi loại thuốc mỡ có Menthol. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dầu Bạc hà hoặc dầu cù là cho trẻ nhỏ ít tuổi, nhất là trẻ mới đẻ (Tài Nguyên Cây Thuốc ViệtNam).
Tác động đến nhiệt độ cơ thể: Bạc hà, tinh dầu Bạc hà hoặc Menthol uống với liều rất nhỏ có thể gây hưng phấn, làm tăng bài tiết của tuyến mồ hôi, làm nhiệt độ cơ thể hạ thấp (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Liều lớn có tác dụng kích thích tủy sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn cản sự lên men bình thường trong ruột (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn trong thí nghiệm In Vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio Choreia Elto, Vibrio Choreia Inaba, Vibrio Choreia Ogawa (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Tinh dầu Bạc hà có tác dụng ức chế thần kinh trung ương do tác dụng chủ yếu của Menthol (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Tinh dầu Bạc hà làm giảm sự vận động và chống co thắt của ruột non. Các chất Menthol và Menthone ức chế sự vận động của đường tiêu hóa từ ruột xuống, có tác dụng làm gĩan mao mạch (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
11. Công năng:




Tán phong nhiệt, hạ sốt, thông mũi, chữa nhức đầu, giúp tiêu hóa, đau bụng

12. Công dụng:

Dùng bach hầ điều trị ho



Chữa cảm cúm, nhức đầu, ngạt mũi, viêm họng, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng.
Cất tinh dầu bạc hà và chế menthol dùng để sản xuất dầu cao sao vàng, làm chất thơm cho các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, thuốc đánh răng, và trong một số ngành kỹ nghệ khác.

NHỮNG CÁCH LÀM ĐEPH TỪ LÔ HỘI


- LÔ HỘI TỪ LÂU ĐƯỢC DÙNG TRONG CÁC CÔNG THỨC CHĂM SÓC SẮC ĐẸP, NHƯNG NGOÀI VIỆC SỬ DỤNG QUA CÁC MỸ PHẨM, BẠN CŨNG CÓ THỂ DÙNG LÔ HỘI TƯƠI ĐỂ LÀM ĐẸP VÀ HOÀN TOÀN YÊN TÂM VỀ CÔNG DỤNG CỦA NÓ.

Lô hội được yêu thích không chỉ bởi những lợi ích làm đẹp phong phú của nó mà còn vì nó có thể được chế biến rất đơn giản và vẫn bảo đảm đặc tính vốn có của mình.
Dưỡng ẩm
Trong lô hội có chứa rất nhiều chất làm ẩm, vậy nên chẳng có gì lạ khi bạn sử dụng chúng như một loại gel dưỡng ẩm thiên nhiên cho mặt và cơ thể. Trong thực tế, đây là một trong những công dụng được yêu thích nhất của lô hội bởi chúng hầu như hợp với mọi loại da, lại không có sự tác động của hóa chất vậy nên nó rất được các chị em tin tưởng sử dụng. Sẽ rất hoàn hảo và không tốn kém nếu bạn sử dụng nó theo chức năng của kem dưỡng ẩm. Khi được bôi, làn da sẽ hấp thụ nhanh chóng những dưỡng chất của cây lô hội. Lô hội cũng được sử dụng để trị mụn.
Dưỡng ẩm da
Thu nhỏ lỗ chân lông
Dịch từ lá lô hội rất giàu dinh dưỡng. Theo ước tính, chúng có 19 axit amin thiết yếu, vitamin nhóm B như B12, vitamin C, E & khoáng chất như sắt, canxi, lecithin, Magiê, Natri Kali, Mangan và kẽm. Lô hội có tính chất tương tự như chất làm se da, vì vậy khi thoa chúng trên khuôn mặt bạn, nó có thể làm giảm sự xuất hiện của lỗ và làm thu nhỏ lỗ chân lông, giúp da mịn màng hơn.
Xóa sổ mụn trứng cá
Lô hội có khả năng tiêu diệt mụn và các tế bào chết, thu hẹp các lỗ chân lông và cho bạn một làn da săn chắc. Hãy dùng lô hội bôi ngay vào nốt mụn khi phát hiện ra nó, để ức chế quá trình phát triển. Ngoài ra, nếu bạn bị sẹo do mụn, hãy thoa lô hội vào đó để nhanh liền sẹo.
Xoa mụn trứng cá



Chống lại nếp nhăn
Dùng 100 gam lô hội (tương đương với 2 - 3 lá lôi hội lớn),x cắt bỏ lớp vỏ bên ngoài, xắt thành những miếng nhỏ, sau đó cho vào nồi đun cùng 1 lít nước, đun sôi khoảng 5 phút. Sau đó bắc xuống khỏi bếp, để nguội. Cho vào tủ lạnh để bảo quản dùng dần. Mỗi lần dùng bạn hãy thoa đều dung dịch này lên da.
Khắc phục làn môi khô nẻ
Đôi môi khô nẻ trông sẽ rất phản cảm, làm giảm đi vẻ gợi cảm, hãy khắc phục bằng cách dùng nhựa của lá lô hội thoa đều lên đôi môi khô nẻ. Một ngày có thể thực hiện một vài lần, bạn sẽ thấy kết quả như ý muốn.
Tẩy tế bào chết
Bạn có thể kết hợp khả năng làm da tươi trẻ và làm mịn da của lô hội với lợi ích tẩy tế bào chết có trong bột yến mạch hoặc dâu tây để chăm sóc toàn diện choda. Loại mặt nạ tẩy tế bào chết làm da tươi trẻ này không chỉ có tác dụng dưỡng ẩm, làm sạch da mà còn chống lại được nếp nhăn nông sâu khác nhau. Bạn cần có gel lô hội, dâu tây nghiền nhuyễn và hạnh nhân nghiền nhuyễn. Bôi hỗn hợp lên da, massage nhẹ nhàng trong khoảng 5 phút rồi rửa sạch. Sau khi chăm sóc da với mặt nạ này, bạn sẽ cảm nhận một làn da mịn màng, mềm mại và tươi trẻ.
Tẩy tế bào chết



Làm đẹp và dài móng nhanh
Những nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của lá lô hội không chỉ giúp móng tay phát triển nhanh hơn chỉ trong một thời gian ngắn mà còn khiến móng tay không bị gãy và bóng đẹp.
Gel cạo
Nếu từng sử dụng lô hội tươi, hẳn bạn biết ruột lá lô hội có cấu tạo trong suốt, mềm, đặc và mát. Chính điều này đã giúp lô hội thường được sử dụng như các loại gel. Và nếu bạn đang khổ sở vì lông, hãy sử dụng lô hội như một loại gel dưỡng ẩm, bôi lên da trước khi cạo. Chúng sẽ giúp da bạn mướt hơn, giúp việc cạo lông trở nên dễ dàng cũng như cung cấp chất ẩm giúp da luôn mềm sau khi cạo.
Dùng kem dương da lô hội



Tẩy trang vùng mắt
Nghe thì có vẻ lạ lùng, nhưng đây là một trong những công dụng tuyệt nhất của lô hội. Sau một ngày dài mệt mỏi với lớp trang điểm dày, bạn hãy lấy một miếng bông hoặc cotton, thấm vào phần ruột lá lô hội rồi xoa nhẹ lên mặt hoặc mắt. Tinh chất làm ẩm, làm sạch da có trong lá lô hội tươi sẽ giúp da bạn được sạch, mát và mịn hơn sau khi sử dụng.
Dầu xả
Lợi ích lô hội không chỉ dừng lại ở làn da, nó còn có tác dụng cho mái tóc. Lấy một lá lô hội, gọt bỏ phần lá xanh bên ngoài để lấy phần gel bên trong, sau đó bôi chúng lên tóc và xoa đều da đâu để hấp thu dưỡng chất.

CHỈ TỬ HOA NHUỘM PHẨM MÀU NGẬP Ở VIỆT NAM


- VỤ Y DƯỢC CỔ TRUYỀN (BỘ Y TẾ) CHO BIẾT VỪA YÊU CẦU CÁC ĐỊA PHƯƠNG TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA, QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGUỒN DƯỢC LIỆU, THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN BỞI QUA KIỂM TRA PHÁT HIỆN NHIỀU LOẠI CHẤT LƯỢNG KÉM, GIẢ MẠO, NHUỘM PHẨM MÀU, CÓ TẠP CHẤT…
Ông Phạm Vũ Khánh, Vụ trưởng Vụ Y Dược cổ truyền cho biết, qua kiểm tra chất lượng dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền tại một số bệnh viện y dược học cổ truyền và khoa y học cổ truyền của các cơ sở khám chữa bệnh tại một số địa phương, kết quả cho thấy một số đơn vị sử dụng sai vị thuốc, sử dụng các vị thuốc kém chất lượng, có tạp chất….

Các hiệu thuốc nam lấy hàng từ biên giới




Cụ thể, một số vị thuốc có trộn tạp chất, nhuộm màu và giả mạo như: bạch linh, hoài sơn, thỏ ty tử, hồng hoa. Một số vị thuốc có lẫn nhiều tạp chất như: bá tử nhân, tế tân, viễn chí, hòe hoa, phòng phong, uy linh tiên, tần giao, kim ngân hoa.

Một số vị thuốc bị nhầm lẫn loài như: dây đau xương, tang ký sinh, ý dĩ, thăng ma, hoàng kỳ. Ngoài ra còn một số vị thuốc sử dụng không đúng bộ phận dùng như: kim ngân hoa (sử dụng kim ngân đằng), liên nhục (dùng nắp hạt sen), phục thần (dùng bạch linh).Y tế vừa có văn bản yêu cầu sở y tế các tỉnh, thành phố đề nghị tăng cường kiểm tra và quản lý chất lượng dược liệu, thuốc y học cổ truyền vì có nhiều loại kém chất lượng, giả mạo.

Ngoài ra, một số vị thuốc được sử dụng có hàm lượng hoạt chất thấp như: đảng sâm, hoàng cầm, hương hoạt, hà thủ ô đỏ, hoàng bá, đan sâm, ngưu tất, nhục thung dung…

Trước tình trạng này, Bộ Y tế đề nghị sở y tế tỉnh, thành phố triển khai tăng cường quản lý chất lượng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Vụ Y Dược cổ truyền cũng yêu cầu phải làm kiểm nghiệm các vị thuốc có tạp chất và nhuộm phẩm màu gồm: vị thuốc hồng hoa, bạch linh, thỏ ty tử, hoài sơn. Chỉ khi nào có kết quả kiểm nghiệm cho thấy các vị thuốc này đạt tiêu chuẩn thì các đơn vị mới được sử dụng để kê đơn, bốc thuốc cho người bệnh.
Chỉ tử hoa do các lương y việt nam bào chế



Các đơn vị trên cần khẩn trương tiến hành kiểm tra chất lượng dược liệu, thuốc đông y trong các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn, chú trọng kiểm tra những vị thuốc nêu trên và báo cáo kết quả về Bộ Y tế trước ngày 30/10/2012./.
Trước đó, cuối năm 2009, trong một đợt lấy mẫu dược liệu xét nghiệm của Viện kiểm nghiệm thuốc TƯ (từ tháng 7 đến tháng 10/2009), đã xách định được 25/57 mẫu Chi tử có chứa chất cấm độc hại Rhodamine – một chất dùng để nhuộm quần áo, cấm tuyệt đối trong thực phẩm và thuốc vì độc hại cho cơ thể.. Các mẫu Chi tử này được lấy rải rác tại nhiều cửa hàng thuốc đông y trên địa bàn Hà Nội như phố Lãn Ông, Ninh Hiệp (Gia Lâm)…

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

TÁC DỤNG CÂY GỪNG ĐIỀU TRỊ BỆNH


Cây gừng : có tên khoa học Zingiber officinal Rosc họ gừng Zingiberaceae hay dân gian còn gọi cây gừng là Khương, Sinh khương, Can khương.

Đặc điểm thực vật, phân bố của cây gừng: cây gừng là một loại cây nhỏ. sống lâu năm. Thân rễ mầm lên thành củ, lâu dần thành xơ. Lá mọc so le không cuống, có bẹ, hình mác dài 15-20cm, mặt bóng nhẵn, gân giữa hơi trắng nhạt, vỏ có mùi thơm. Trục hoa xuất phát từ gốc, cụm hoa thành bông mọc sát nhau. Loại gừng trồng ít ra hoa. Cây gừng được trồng khắp nơi trong cả nước.
Gừng phương thuốc điều trị bệnh ho, cảm vào mùa đông hiệu quả

Cách trồng cây gừng: trồng bằng thân rễ, có nhiều mấu không bị dập nát.

Bộ phận dùng, chế biến của cây gừng: dùng thân rễ của cây gừng tươi hoặc khô. Sinh khương là thân rễ tươi. Can khươnglà thân rễ khô.

Công dụng chủ trị của cây gừng: cây gừng có vị cay, nồng ấm. Có tác dụng làm nóng ấm,ra mồ hôi. Cây gừng giúp cho sự tiêu hóa, dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mửa, say tàu xe, cảm mạo phong hàn, chữa ho mất tiếng.

Chú ý: không dùng gừng khi đã ra nhiều mồ hôi , thang thuốc có gừng không sắc quá 15 phút.
Gừng có thêt làm được nhiều mín ăn ngon và bổ dưỡng


Bài thuốc có cây gừng:

Ngừa cảm lạnh sau khi phải dầm mưa nhiều giờ: gừng sống giã nát, bỏ vào 1 ly nước sôi hoặc trà nóng cho đường vừa đủ ngọt để dễ uống,

Chữa đau bụng do lạnh: củ gừng 8g (nướng cháy vỏ) , riềng 12 g (sao vàng) , củ sả (sao vàng), búp ổi (sao vàng). Đổ 500 ml nước sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống ấm trong ngày.

Chữa mất tiếng hoặc khan tiếng: củ cải trắng 2 củ, gừng sống 7 lát. Rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống làm 2 hoặc 3 lần trong ngày.
Cây gừng trồng được ở nhiều nơi nhưng  những công dụng mang lại không hề nhỏ

Chữa trúng gió, tê tay chân: gừng sống 40g, đồng tiện 80cc. Gừng sống giã nát, cho vào một ít nước sôi, vắt lấy nước, hòa với đồng tiện uống lúc đồng tiện còn ấm.

Chữa buồn nôn trong thời kỳ có thai: gừng sống 20g, giã nát hoặc khoảng 8g bột gừng khô. Bỏ gừng vào một ly nước sôi hoặc nước trà nóng, có thể thêm một chút đường cho dễ uống.

CÂY THUỐC LÁ ĐÃ CÓ TỪ LÂU ĐỜI Ở VIỆT NAM

Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ. Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12/10/1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos. 
Cây thuốc nam điều trị bệnh

Hàng ngàn năm trước Công nguyên, người da đỏ đã trồng thuốc lá trên vùng đất mênh mông ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, quần đảo Antil và một số nơi khác. 

Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do Roman Pano (nhà truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi châu Mỹ về. Năm 1556, Andre Teve cũng lấy hạt thuốc lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Jean Nicot, Đại sứ Pháp ở Lisbon dã dâng lên nữ hoàng Pháp Featerina Mechssi những cây thuốc lá đầu tiên. Theo ông thuốc lá có thể xua đuổi bệnh đau đầu, bằng cách cho người bệnh ngửi bột thuốc. 

Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộc viếng thăm Anh và một số quốc gia khác đem về. Vua Sulemam cho trồng thuốc lá ở Bungari vào khoảng năm 1687.

Tại Đức từ năm 1640 đã có nhà máy sản xuất thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đã có xưởng sản xuất xì gà tại Hamburg.


Cây thuốc quý vùng đất việt

Tại các nước châu á, Thái Bình Dương, thuốc lá được trồng vào thế kỷ 18.



Ngành kỹ thuật trồng trọt, công nghệ sinh học đã phát triển rất nhanh chóng để sản xuất đa dạng các loại nguyên liệu thuốc lá đáp ứng cho công nghiệp chế biến, nhu cầu thị hiếu đa dạng về thuốc điếu và đặc biệt để xuất khẩu.



Trong thời gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La Herba Sanena (cây làm thuốc), Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbe etrange (cây làm thuốc dị thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệm tên Đại sứ ở Lisbon). Sau đó các tên mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana để kỷ niệm tên Jean Nicot, người có công truyền bá trồng thuốc lá ở châu Âu. Ngày nay nhiều nước có tên gọi thuốc lá giống nhau là Tabacco (Anh, Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari), Tutun (Rumania)... Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là Nicotiana Tabacum L.




Thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, tiêu chí khác hẳn thời nguyên thủy. Phạm vi phân bổ vùng trồng từ 40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc. Thuốc lá có tính di truyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của con người, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khác nhau. Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia (Hoa Kỳ, Zimbabwe...), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa trung Hải, xì gà nổi tiếng của Cuba và Sumatra (Indonesia).



Việc hút thuốc lá lan nhanh sang các nước châu Âu. Năm 1561, Jean Nicot, đại sứ Pháp ở Lisbone, đã giới thiệu bột thuốc lá với bà hoàng Catherine de Medici, người bị chứng đau nửa đầu. Bột thuốc lá gây ra hắt hơi, cơn đau của bà hoàng dịu đi. Điều đó làm giới quý tộc Pháp ngạc nhiên, nhưng lại khởi đầu cho việc dùng thuốc lá như một cách sống hợp thời trang thú vị trong giới qúi tộc. Để tỏ lòng ngưỡng mộ Nicot, thuốc lá còn được gọi là Nicotine.



Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã mở đường cho cuộc “Phát kiến địa lý”, dẫn đến sự mở rộng phạm vi buôn bán thế giới và sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và công nghiệp. Các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bỉ cũng đua nhau đi tìm kiếm thị trường buôn bán trên thế giới. Thuốc lá là một trong những hàng hóa quan trọng được các nước châu Âu mang tới châu á, châu Phi.



Đến năm 1592, một thế kỷ sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ, thuốc lá đã được trồng ở Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Anh. Sau đó lan ra Philippines, ấn Độ, Java, Nhật, Tây Phi, Trung Quốc và các lái buôn đã mang thuốc lá đến tận Mông Cổ và Sibêri.



Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu. Thuốc lá đã phân chia quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu không thể ngăn cấm vì những khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá cho ngân sách quốc gia.



Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp. Các phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp. Ngành công nghiệp thuốc lá ra đời và thu được lợi nhuận to lớn hơn trước.



Năm 1881, James Bonsack, một người Virginia (Mỹ), phát minh ra chiếc máy có thể sản xuất 120.000 điếu thuốc/ngày.




James “Buck” Duke, người mà 21 năm sau trở thành chủ tịch đầu tiên của công ty B.A.T (Công ty Thuốc lá Anh - Mỹ), đã mua 2 máy và công ty sản xuất thuốc lá sợi của gia đình ông đã chuyển sang sản xuất thuốc lá điếu. Thuốc lá điếu dần dần thay thế cho các loại thuốc lá dùng tẩu, loại nhai và thuốc lá bột để hít.

Cuối thế kỷ XIX, suốt thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền. Các công ty nhỏ lần lượt phá sản hoặc bị hút vào các công ty lớn - các tập đoàn sản xuất độc quyền - có nhiều vốn, áp dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao, để dần dần chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ngành công nghiệp thuốc lá diễn ra quá trình tập trung hóa như các ngành sản xuất khác. Các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia như B.A.T, Philip Morris (Mỹ), Japan Tobacco International (Nhật), Imperial và Gallaher (Anh), Tập đoàn Altadis Franco - Spanish (Pháp - Tây Ban Nha)... hiện đang chi phối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, phối chế, sản xuất thuốc sợi, thuốc điếu, các máy móc chuyên dùng và tất cả các phụ liệu cho sản xuất thuốc lá.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng chú ý phát triển ngành công nghiệp thuốc lá, như Trung Quốc, Indonesia, Triều Tiên, ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam...

CÂY THUỐC QUÝ PHƯƠNG NAM

Mùa mưa là mùa của những món ăn dân dã, những đặc sản của vùng quê Nam Bộ, trong đó có đọt nhãn lồng. Món ăn ngon không chỉ nhờ tài pha chế của người nấu mà còn rất ngon bởi nó đượm nồng hương vị của quê nhà, đong đầy những kỷ niệm của thời thơ bé, và bàn tay chắt chiu của mẹ một đời lam lũ nuôi con.
Đọt nhã lồng cây thuốc phương nam

Nếu biết, chắc bạn cũng thích ăn những trái nhãn lồng như tôi hồi thơ bé. Những trái chín vàng thơm nức có vị ngọt ngọt, chua chua. Nó không chỉ là món ăn ngon của tụi trẻ mà còn là món khoái khẩu của loài chim. Bởi vậy, chúng mình cứ phải chực chờ giành ăn với các chú chim nhỏ những khi trái chín. Tuổi thơ của tôi gắn với quê hương, với dây nhãn lồng hoang dại. Lúc còn nhỏ chưa dám ra khỏi nhà, tôi cứ mong ngóng chờ đón mẹ đi ruộng về, bao giờ mẹ cũng có quà cho các con bằng một vốc trái nhãn lồng chín. Lớn thêm chút nữa đã biết đi kiếm những trái nhãn lồng còn xanh. Trái tròn dài, bọng bọng, (bên ngoài là lớp vỏ mỏng trong có nhiều hột nhỏ) đập vào trán nhau nổ bôm bốp rồi ù té chạy, rồi rượt đuổi nhau um xùm trong nhà ngoài xóm. Hồi nhỏ, tôi cứ tưởng chỉ có quê mình mới có cây nhãn lồng. Lớn lên đi đây, đi đó tôi mới biết cây mọc dại ở khắp mọi miền đất nước. Ở phương Bắc cây có tên: "Lục Vân Tiên". "À tưởng cây gì" Tôi biết bạn sẽ nói như thế. Nhưng một điều chắc chắn nếu bạn không phải dân miệt đồng bằng sông Cửu Long thì bạn sẽ không biết cây nhãn lồng là một món ăn "đặc sản".

Vào mùa mưa, những cây nhãn lồng cũng như các loại rau dại ở đồng quê mọc rất nhiều, rất nhanh và rất ngon. Sau buổi đi ruộng về mẹ hái vội một nắm đọt nhãn lồng. Những chiếc lá non trong nhìn mà mắc thèm. Mẹ luộc lên, để rau vừa chín tới còn nguyên màu rau xanh non. Đọt nhãn lồng luộc chẳng là gì nếu không có nước chấm ngon. Nước chấm không thể là nước mắm hay nước tương mà phải là tương hột được xào lên. Ở quê tôi, thường nạo trái dừa khô vắt lấy một chút nước cốt rồi đổ vào tương xào lên, nếu không có nước cốt dừa thì người ta cho mỡ vào chảo, rồi đập vài tép tỏi phi cho thiệt thơm sau đó đổ tương vào nêm thêm chút đường, chút bột ngọt. Trời mưa lạnh lạnh, nồi cơm trắng thơm bốc khói, dĩa rau luộc xanh rờn, chén tương xào thơm phức. Vị dẻo thơm của cơm lúa mới, vị bùi bùi của đọt nhãn lồng, vị mặn mặn, ngọt ngọt, béo béo của tương. Chẳng cần thịt thà, cá tép. Vèo một cái là nồi cơm sạch trơn (mà tương hột quê tôi cũng đặc biệt lắm. Từ hột đậu nành nấu chín ủ lại rồi thắng nước đường cho vô bởi vậy tương hột có màu nâu vàng óng).
Cây thường được lấy phơi khô nấu nước uống rất mát
Cây nhãn lồng không chỉ là món rau ngon miệng mà còn là vị thuốc nam trị bệnh tim mạch và an thần rất tốt. Hiện nay, khi các loại rau khác là nỗi lo về các lượng thuốc và phân bón quá nhiều thì cây nhãn lồng cũng như các thứ rau tập tàng khác lại lên ngôi. Nó không khép nép trong các xề rau nho nhỏ của các bà cụ ngồi ở một góc chợ mà nó đã ngang hàng đồng giá trị với một số loại rau thượng đẳng. Cây nhãn lồng quanh năm sống dại ở khắp nơi, chẳng cần phải chăm sóc vẫn xanh um.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

HẠ KHÔ THẢO MÁT GAN TỐT CHO SỨC KHỎE


Hạ khô thảo mát gan, sáng mắt

Hạ khô thảo tên khoa học: Prunella vulgaris L., họ hoa môi (Lamiaceae). Là loại cây thảo, sống dai, thân hình vuông, màu hơi đỏ tím. Lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa. Cụm hoa mọc ở đầu cành gồm nhiều hoa, mọc thành từng vòng, mỗi vòng khoảng 5 – 6 hoa, có cuống ngắn, xếp sít nhau như bông.
Bộ phận dùng: Hạ khô thảo là cụm bông hoa của cây hạ khô thảo (Flos Prunellae cum Fructu). Có thể dùng cả cây làm thuốc, nhưng tác dụng kém hơn chỉ dùng cụm bông hoa.
Tránh nhầm lẫn hạ khô thảo nam là cành mang lá và hoa của cây cải trời (Blumea subcapitata DC.), thuộc họ cúc (Asteraceae). Theo kinh nghiệm dân gian, cây này chữa được nhiều bệnh ngoài da.
Hạ thảo khô điề trị bệnh gan tốt nhất


Một số đơn thuốc có hạ khô thảo


Thanh hỏa, tán kết:
- Trị lao hạch cổ chưa vỡ, bướu giáp trạng đơn thuần, viêm gan, viêm vú tắc sữa: hạ khô thảo 125 – 250g. Sắc uống hoặc dùng hạ khô thảo nấu cao mà uống.
- Trị lao hạch: hạ khô thảo 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang, liên tục 20 – 30 ngày.
- Trị lao hạch, viêm tuyến sữa: hạ khô thảo 20g, huyền sâm 12g, thổ bối mẫu 12g. Sắc uống.
Mát gan, sáng mắt:
- Trị đau nhức mắt do nhiệt ở gan: hạ khô thảo 62,5g, chích thảo 20g, hương phụ tử 62,5g. Tán thành bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, uống với nước.
- Trị viêm màng tiếp hợp: hạ khô thảo 62,5g, bồ công anh 62,5g, tang diệp 12g, xa tiền thảo 12g, dã cúc hoa 12g. Sắc uống.
- Trị đau đầu do tăng huyết áp: hạ khô thảo tươi 62g, hy thiêm thảo 62g, dã cúc hoa 62g. Sắc uống.
- Trị tăng huyết áp gây đau đầu, đỏ mặt: hạ khô thảo 20g, cúc hoa 12g, mẫu lệ sống 32g, thạch quyết minh sống 32g, xuyên khung 4g, mạn kinh tử 4g. Sắc uống.

Một số món ăn hỗ trợ điều trị có hạ khô thảo
Cây thuốc quý dành cho các quý ông thích uống rượu bia

- Cháo bồ công anh, hạ khô thảo: bồ công anh 30g, hạ khô thảo 20g, gạo tẻ 60g. Sắc hay hãm bồ công anh và hạ khô thảo lấy nước bỏ bã. Lấy nước sắc và gạo nấu cháo, khi ăn cho thêm đường trắng đủ ngọt. Dùng một đợt 3 – 5 ngày. Dùng trong các trường hợp viêm kết giác mạc cấp (đau mắt đỏ), xuất huyết kết giác mạc, mụn nhọt, viêm vú tắc sữa, lao hạch.
- Cháo câu kỷ tử, hạ khô thảo: hạ khô thảo 20g, gạo tẻ 30g, câu kỷ tử 15g. Hạ khô thảo sắc lấy nước, bỏ bã, để riêng. Cho gạo tẻ và kỷ tử vào nấu cháo, khi được cháo, cho nước hạ khô thảo vào sôi đều, ăn ngày 1 lần, liên tục trong 15 ngày. Dùng hỗ trợ điều trị các trường hợp lao mào tinh hoàn (hay gặp ở thanh niên 20 – 35 tuổi).