Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

TRINH NỮA HOÀNG CUNG DƯỢC LIỆU QUÝ THUỐC NAM


Cây trinh nữ hoàng cung tên khoa học là Cranium Latifolium L. họ thủy tiên Amaryllidaceac hay tên khác là tỏi lơi lá rộng.
Đặc điểm thực vật, phân bố: Cây thảo, có thân củ, hình cầu, đường
trinh nữ hoàng cung 
 kính củ 10-20cm. Thân giả ngắn, nhỏ. Lá có bản rộng, gân lá hình cung gắn song song, phiến lá rộng 6-11cm, dài 60-90cm, mép lá hơi ráp. Cụm hoa tán, trục phát hoa dài 60cm, có 10-20 hoa màu trắng, hoa hình ống hơi cong, dài 7-10cm, có chĩa thủy, phiến dài bằng ống. Cây ra hoa vào tháng 3-4, thường mọc ở tràng cỏ, cây bụi tại Biên Hòa – Đồng Nai hay Bà Rịa.
Cách trồng: cây dễ trồng, nhân giống bằng các thân cành (củ) tách ra.
Bộ phận dùng, chế biến: lá tươi hay phơi khô, thu hái quanh năm.
Công dụng, chủ trị: 
1. Chữa đau khớp, chấn thương tụ máu:
Lá Trinh nữ hoàng cung lượng vừa đủ, xào nóng, băng đắp nơi đau.
Củ trinh nữ hoàng cung 20g, dây Đau xương 20g, Huyết giác 20g, lá Cối xay 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.
Củ Trinh nữ hoàng cung nướng cho nóng, đập dập, băng đắp nơi sưng đau (Kinh nghiệm Ấn độ).
Xem thêm thông tin về khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm nhờ bài thuốc từ thảo dược của Việt Nam.
2. Chữa ho, viêm phế quản:
Lá trinh nữ hoàng cung 20g, Tang bạch bì 20g, Xạ can 10g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Bồng bồng 12g, lá Táo chua 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
3. Chữa u xơ tuyến tiền liệt (đái không thông, đái đêm, đái buốt, đái dắt ở người cao tuổi).
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, hạt Mã đề (Xa tiền tử) 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.
vừa làm cảnh và lại là cây thuốc quý của đông y
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, rễ Cỏ xước 12g, dây Ruột gà (Ba kích sao muối 10g), Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
4. Chữa u xơ tử cung (đau bụng dưới, có thể rong kinh, rong huyết, ra máu âm đạo…).
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Hạ khô thảo 20g, rễ Cỏ xước 12g, Hoàng cầm 8g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Huyết giác 20g, Ích mẫu 12g, Ngải cứu tươi 20g, lá Sen tươi 20g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, lá Trắc bách sao đen 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang.
5. Chữa mụn nhọt:
Lá hoặc củ Trinh nữ hoàng cung, lượng vừa đủ, giã nát (hoặc nướng chín) đắp lên mụn nhọt khi còn nóng.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Bèo cái 20-30g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g. Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
6. Chữa dị ứng mẩn ngứa:
Lá Trinh nữ hoàng cung 20g, Kim ngân hoa 20g, Ké đầu ngựa 12g, Cam thảo dây 6g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Chú ý: Hiện nay trong nhân dân có nhiều người nhầm lẫn cây trinh nữ hoàng cung với một số cây náng khác, đặc biệt là cây Náng hoa trắng (Crinum asiaticum  L.), sử dụng lá đun sôi lấy nước uống bị ngộ độc, nôn ói. Do đó phải phân biệt rõ cây Trinh nữ hoàng cung với các cây náng khác có tại Việt Nam.

KÉ ĐẦU NGỰA THUỐC TỐT CHO MỌI NHÀ

Chữa bệnh hiệu quả với ké đầu ngựa

Theo Đông y, quả ké có tính ôn, vị ngọt, vào kinh phế, có độc. Tính năng khu phong, trừ thấp, lợi tiểu, tiêu viêm, giảm đau, chủ trị có thể xếp vào 3 nhóm chính: các bệnh ngoài da, bệnh mũi xoang, bệnh xương khớp.
Cây ké đầu ngựa mọc hoang ở nhiều nơi, tên Hán là Thương nhĩ tử, tên khoa học loài có ở Việt Nam duy nhất là Xanthium strumarium. Loại cho quả to bằng ngón chân cái gọi ké ông mới là thật tốt.

Cây ké đầu ngựa


Theo Tây y, thành phần hóa học của loại quả này có nhiều iod và vitamin C (đặc biệt trong lá 47mg/100g lá). Quả non có nhiều vitamin C và các glucoza, B sintosterol và B DglucoziDl có tác dụng chống viêm.
Hạt ké có tỷ lệ dầu béo cao hơn 30-35%. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy gây giảm đường huyết của chuột bình thường, ức chế thần kinh trung ương, kháng khuẩn gam âm, kháng nấm. Cồn rễ giảm trọng lượng khối u và tăng thời gian sống. Trong lâm sàng ứng dụng thành phần iod để chữa các bệnh thiếu iod như bướu cổ đơn thuần.
Độc tính của ké đầu ngựa được đề cập đến trong cả Đông và Tây y. Trong các phần trên mặt đất của cây ké chứa hỗn hợp alcaloid được coi là độc tố. Hạt có một chất gây độc cho gia súc, trong đó có hydroquinon, cholin và một chất thứ ba độc hơn chưa xác định được. Búp non cây ké có sách viết là rất độc. Phấn hoa ké đầu ngựa gây dị ứng viêm mũi, viêm da co thắt phế quản, hen. Cây chỉ gây dị ứng trước khi ra quả. Do có iod nên sẽ giảm tiết sữa của bà mẹ nuôi con.
Trong Đông y dùng cao ké đầu ngựa, không được ăn thịt lợn, thịt ngựa vì với người mẫn cảm có thể bị nổi quầng trên da. Nhưng bệnh viện Giang Tây, Trung Quốc chưa nhất trí vì bệnh nhân không kiêng vẫn thấy bình thường.

BÀI THUỐC QUÝ TỪ CÂY DÂU TẰM

Quả dâu khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen. Qủa dâu giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước, có thể ăn tươi, nấu rượu, làm nước giải khát, làm mứt, làm vị thuốc… đều tốt, được mọi người ưa chuộng. Toàn bộ cây dâu cũng đều là những vị thuốc, từng được các thầy thuốc, nhà văn trong lịch sử đánh giá cao
quả dâu tằm chữa say rượu
Quả dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ can thận, dưỡng huyết, trừ phong, đỡ tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí, giải độc rượu, sống lâu ngày sẽ an thần, thính tai tinh mắt, kéo dài tuổi thọ. Qủa dâu thường được dùng chữa can thận hư, váng đầu mất ngủ, ù tai, mờ mắt, tiêu khát, táo bón, bệnh tràng nhạc, viêm khớp dạng thấp…
Lá dâu vị đắng ngọt, tính hàn, có công hiệu mát gan sáng mắt, thư pho
lá dâu tằm điều trị ho
ng tán nhiệt, lợi ngũ tạng, thông khớp xương, làm mượt tóc, dưỡng tân dịch, dùng chữa cảm sốt, ho, đau đầu, chóng mặt, đau sưng họng, mắt đau sưng đỏ, xuất huyết do chấn thương, rết cắn, chân phù…
Cành dâu vị đắng tính bình, có tác dụng trừ phong, thông kinh lạc, lợi tiểu tiện, dùng chữa các bệnh ho hen do phế nhiệt, phù chân, khó tiêu tiện. Những năm gần đây còn dùng chữa cao huyết áp, đái tháo đường…
Y học hiện đại qua nghiên cứu đã chứng minh trong qủa dâu có chứa nhiều đường glucô, glucôza, axít axêtic, chất nhu toan và các loại vitamin A, B1, B2, C… Qủa dâu được chế thành phù tang, bảo đơn, mứt dâu dùng điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, can thận âm hư, huyết hư, tân dịch thiếu, báo bón… có công hiệu bổ huyết an thần, nhuận tràng. Viên thuốc tễ tang mạt hoàn được chế từ qủa dâu, lá dâu, vừng đen có tác dụng điều trị nhất định đối với chứng bạc tóc sớm, dùng lâu ngày tóc trắng chuyển đen, tóc rụng mọc lại.
Vì thế, dâu được người ta đánh giá là vị thuốc trường thọ.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng dâu:
Mất ngủ: Qủa dâu tươi 60 gam, hoặc qủa dâu khô 30 gam, sắc uống ngày 2 lần vào hai buổi sáng, chiều.
Táo bón do huyết hư: Qủa dâu nấu thành cao, ngày 2 lần, mỗi lần dùng 20 gam.
Bạc tón sớm: Qủa dâu nấu thành cao, ngày 3 lần, mỗi lần 20 gam.
Viêm khớp: Dâu qủa 250 gam, cành dâu 150 gam, tầm gửi cây dâu 100 gam, ngâm rượu uống.
Ho lâu ngày do phế hư: Qủa dâu 150 gam, lá dâu 100 gam, vừng đen 100 gam, giã nát, đun thành loại nước đặc sền sệt, tra 500 gam đường, nấu thành cao. Mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần 15 gam.
Chữa say rượu: Qủa dâu cho vào vải trắng sạch, bóp lấy nước uống vài lần.

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

CÂY CỎ MỰC CẦM MÁU TỐT NHẤT




Cỏ Mực
Tên khác của cỏ Mực: Cỏ nhọ nồi, hạn liên thảo, có tên khoa học Eclipta alba Hassk. Thuộc họ Cúc Asteraceae

Mô tả cây cỏ Mực: Cỏ nhọ nồi là một loại cỏ thẳng đứng có thể cao tới 80cm, thân có lông cứng. Lá mọc đối có lông ở hai mặt, dài 2-8cm, rộng 5-15mm. Cụm hoa hình đầu màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành, lá bắc thon dài 5-6mm, cũng có lông. Quả bế 3 cạnh, hoặc dẹt, có cánh, dài 3mm, rộng 1.5mm, đầu cụt. Mọc hoang khắp nơi ở nước ta.
Cỏ Mực

Thành phần hoá học: Theo các nhà nghiên cứu trong nhọ nồi có một ít tinh dầu, tamin, chất đắng, caroten và chất ancaloit gọi là ecliptin.

Công dụng của cây cỏ Mực: Cầm máu, tăng trương lực của tử cung cô lập. Tính vị theo tài liệu cổ: Vị ngọt, chua, tinh lương vào hai kinh can và thận, tác dụng bổ thận âm, chỉ huyết lị. Dùng chữa can thận âm kém, lỵ và ỉa ra máu, làm đen râu tóc.

Công dụng của cây cỏ Mực:

- Thổ huyết và chảy máu cam: Dùng cỏ mực cả cành và lá tươi giã lấy nước để uống.
- Tiêu ra máu: Cỏ mực nướng trên miếng ngói sạch cho khô, tán bột. Mỗi lần dùng 2 chỉ (8g) với nước cơm (Gia tàng kinh nghiệm phương).
- Tiểu ra máu: Cỏ mực, mã đề 2 vị bằng nhau, giã lấy nước ngày uống 3 chén lúc đói (Y học chân truyền). Hoặc nấu cháo cỏ mực (100 g) với 3 lát gừng.
- Trĩ ra máu: Một nắm cỏ mực để nguyên rễ, giã nhuyễn, cho vào 1 chén rượu nóng, thành dịch đặc vừa uống trong, vừa đắp bã ngoài (Bảo thọ đường phương).
- Chảy máu dạ dày-hành tá tràng: Cỏ mực 50 g, bạch cập 25 g, đại táo 4 quả, cam thảo 15g sắc uống, ngày 1 thang chia làm 2 lần.
- Vết đứt chém nhỏ chảy máu: Một nắm cỏ mực sạch nhai hoặc giã nhuyễn đắp lên vết thương.
- Chữa râu tóc bạc sớm: Cỏ mực với lượng tùy dùng, rửa sạch, nấu cô đặc thành cao rồi cho nước gừng, mật ong với lượng vừa phải, cô lại lần nữa. Cho vào lọ, khi dùng lấy 1-2 thìa canh hòa nước đun sôi còn ấm hoặc cho ít rượu gạo để uống. Ngày 2 lần, cao này có tác dụng bổ thận, ích tinh huyết.
cầm máu bằng cở mực tốt nhất
Hoặc: Cỏ mực 1-2 kg, cho vào nước ép lấy dịch đặc trộn với bột nữ trinh tử đã được chế sẵn như sau: nữ trinh tử 300-1.000 g ngâm rượu 1 ngày, bóc vỏ, rang khô tán bột. Viên hoàn bằng mật ong. Mỗi lần uống 10 g. Ngày uống 3 lần với rượu gạo hâm nóng. Hoàn này bổ can thận, xanh đen râu tóc, khỏi đau lưng gối (Nữ trinh tử không phải trinh nữ tử).
- Chữa di mộng tinh (do tâm thận nóng): Cỏ mực sấy khô, tán bột. Uống ngày 8 g với nước cơm, hoặc sắc cỏ mực để uống ngày 30 .
- Rong kinh: Nếu nhẹ, lấy cỏ mực tươi giã vắt lấy nước cốt uống hoặc cỏ mực khô sắc nước uống. Nếu huyết ra nhiều, cần phối hợp thêm trắc bá diệp hoặc cây huyết dụ…
- Trẻ tưa lưỡi: Cỏ mực tươi 4 g, lá hẹ tươi 2 g giã nhuyễn, lấy nước cốt hòa mật ong chấm lên lưỡi cách 2 giờ 1 lần.

TÁC DỤNG CÂY THUỐC QUÝ THIÊN NIÊN KIỆN



Cây thiên niên kiện : 
có tên khoa học là Homalomena occulta L. Schott, thuộc họ Ráy - Araceae hay dân gian còn gọi là cây Sơn thục, Thần phục.

Đặc điểm thực vật: cây sống lâu năm nhờ thân rễ mập, bò dài, thơm, khi bẻ ngang có xơ như kim. Lá mọc từ thân rễ, phiến lá sáng bóng, dài tới 30cm, có 3 cặp gân gốc, 7-9 cặp gân phụ. Cụm hoa là những bông mo, có mo màu xanh, dài 4-6cm, không rụng; buồng 3-4cm, ngắn hơn mo; bầu chứa nhiều noãn. Quả mọng thuôn, chứa nhiều hạt có rạch. Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 8-10.
thiên niên kiện
Bộ phận dùng: thân, rễ.

Nơi sống và thu hái: Cây có nguồn gốc từ Malaysia và châu Ðại Dương, mọc hoang ở rừng, nơi ẩm ướt cạnh suối hay dọc theo hai bên bờ khe suối. Cũng được trồng để làm thuốc. Trồng bằng thân rễ. Thu hái thân rễ già, rửa sạch, chặt thành từng đoạn ngắn 10-20cm, sấy nhanh dưới nhiệt độ 50oC cho khô đều mặt ngoài rồi làm sạch vỏ, nhặt bỏ các rễ con, sau đó đem phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Trong thân rễ có khoảng 0,8-1% tinh dầu tính theo rễ khô kiệt. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu. Trong tinh dầu có chừng 40% l-linalol, một ít terpineol và chừng 2% este tính theo linalyl acetat. Ngoài ra còn có sabinen, limonen, a-terpinen, acetaldehyt, aldehyd propionic.

Tính vị, tác dụng: vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng khư phong thấp, bổ gân cốt, chỉ thống tiêu thũng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: thường dùng chữa phong hàn thấp nhức mỏi các gân xương, hoặc co quắp tê bại. Trong nhân dân, Thiên niên kiện thường được dùng chữa thấp khớp, đau nhức khớp, đau dạ dày, làm thuốc kích thích tiêu hoá. Còn dùng trị đau bụng kinh, trừ sâu nhậy.

Thiên niên kiện còn là nguyên liệu chiết tinh dầu dùng làm hương liệu, và là nguồn nguyên liệu chiết linalol.
Tham khảo thêm thông tin về bài thuốc từ thảo dược tươi của Việt Nam chữa khỏi hẳn bệnh thoát vị đĩa đệm
 
thiên niên kiện điều trị bệnh xương khớp

. Hơn 5000 người đã có kết quả điều trị, có minh chứng rõ ràng về kết quả điều trị!!!


Ở Vân Nam (Trung Quốc), thân rễ Thiên niên kiện được dùng trị đòn ngã tổn thương, gãy xương, ngoại thương xuất huyết, tứ chi tê bại, đau dạ dày, viêm dạ dày và ruột, gân mạch khó co duỗi, phong thấp đau lưng đùi, loại phong thấp đau nhức khớp xương.

Cách dùng:

Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu uống. Thường phối hợp với Cỏ xước, Thổ phục linh, Ðộc lực để trị tê thấp, nhức mỏi. Cũng dùng tươi giã ngâm rượu xoa bóp chỗ đau nhức, tê bại và phong thấp.

Ðể trị đau bụng kinh, thường phối hợp với rễ Bưởi bung, rễ Bướm bạc, gỗ Vang, rễ Sim rừng cùng sắc uống. Ðể trừ sâu nhậy, dùng thân rễ khô tán bột rắc.

Lá tươi giã với ít muối đắp chữa nhọt độc.

BẠC HÀ CÂY THUỐC QUÝ ĐÔNG Y

1. Tên khoa học: Mentha arvensis L. (Bạc hà Á), hoặc Mentha piperita L. (Bạc hà Âu),
2. Họ: Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.
3. Tên khác:
4. Mô tả:
cây bạc hà
Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan, loại thân đứng mang lá, cao 30-40cm, có khi hơn, mầu xanh lục hoặc tím tía. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng. Cuống ngắn. Mép lá khía răng đều. Hoa nhỏ, mầu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa. Lá bắc nhỏ, hình dùi. Đài hình chuông có 5 răng đều nhau. Tràng có ống ngắn. Phiến tràng chia làm 4 phần gần bằng nhau, có 1 vòng lông ở phía trong. 4 nhụy bằng nhau, chi nhụy nhẵn. Quả bế có 4 hạt. Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lông bài tiết tinh dầu.
Mùa hoa quả vào tháng 7 - 10.
5. Phân bố:
Cây của vùng Âu Á ôn đới. Ở nước ta có những cây mọc hoang ở miền núi, nơi đất ẩm, mát và những chủng nhập trồng ở nhiều nơi..  
6. Trồng trọt:
Cây ưa đất xốp, tốt nhất là đất sét có nhiều mùn, ẩm ướt, thoát nước nhưng đủ độ ẩm. Đất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2-3 hàng. Có thể trồng quanh năm nhưng thường trồng vào 2 mùa là mùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 8-9), trồng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất. Trồng bằng hạt (ít áp dụng), thân ngầm hoặc thân cây trên mặt đất, cắt đoạn dài 15-30cm. Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3-4 lần; lần thứ nhất vào tháng 6-7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều. Hái về, cần bó lại từng bó, phơi chỗ mát cho khô, hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hoặc để hơi héo rồi cất.
7. Bộ phận dùng:
Thân, cành mang lá (Herba Menthae)
8. Thu hái, chế biến:
Thu hái vào khoảng tháng 5, 8, 11 thu hoạch lúc cây mới ra hoa, rửa sạch dùng tươi hoặc phơi trong râm cho khô.
Lấy lá Bạc hà khô, tẩm nước, để vào chỗ râm mát, khi lá cây mềm, cắt ngắn từng đoạn, phơi trong râm cho khô để dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Rửa qua, để ráo nước, cắt ngắn chừng 2cm, phơi trong râm cho khô (Dược Liệu Việt Nam).
9. Thành phần hoá học chính:
Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là menthol.
10. Tác dụng dược lý:
Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Bạc hà có tác dụng ức chế đối với virus ECHO và Salmonella Typhoit (Trung Dược Học).
Tác dụng trên cơ trơn: Menthol và Menthone có tác dụng ức chế trên ruột thỏ, Menthone có tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).
Ức chế đau: Tinh dầu Bạc hà và Menthol bốc hơi nhanh, gây cảm giác mát và tê tại chỗ, dùng trong trường hợp đau dây thần kinh (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Sát khuẩn mạnh: dùng trong những trường hợp ngứa của 1 số bệnh ngoài da, bệnh về tai, mũi, họng (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Ức chế hô hấp, tuần hoàn: đối với trẻ em ít tuổi, tinh dầu Bạc hà và Menthol bôi vào mũi hoặc cổ họng có thể gây hiện tượng ức chế dẫn tới ngừng thở và tim ngưng đập hoàn toàn. Người ta đã nhận xét thấy 1 số trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu Menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi loại thuốc mỡ có Menthol. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dầu Bạc hà hoặc dầu cù là cho trẻ nhỏ ít tuổi, nhất là trẻ mới đẻ (Tài Nguyên Cây Thuốc ViệtNam).
Tác động đến nhiệt độ cơ thể: Bạc hà, tinh dầu Bạc hà hoặc Menthol uống với liều rất nhỏ có thể gây hưng phấn, làm tăng bài tiết của tuyến mồ hôi, làm nhiệt độ cơ thể hạ thấp (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Liều lớn có tác dụng kích thích tủy sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn cản sự lên men bình thường trong ruột (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn trong thí nghiệm In Vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio Choreia Elto, Vibrio Choreia Inaba, Vibrio Choreia Ogawa (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Tinh dầu Bạc hà có tác dụng ức chế thần kinh trung ương do tác dụng chủ yếu của Menthol (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
Tinh dầu Bạc hà làm giảm sự vận động và chống co thắt của ruột non. Các chất Menthol và Menthone ức chế sự vận động của đường tiêu hóa từ ruột xuống, có tác dụng làm gĩan mao mạch (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).
11. Công năng:


Tán phong nhiệt, hạ sốt, thông mũi, chữa nhức đầu, giúp tiêu hóa, đau bụng
12. Công dụng:
dùng bach hầ điều trị ho
Chữa cảm cúm, nhức đầu, ngạt mũi, viêm họng, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng.
Cất tinh dầu bạc hà và chế menthol dùng để sản xuất dầu cao sao vàng, làm chất thơm cho các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, thuốc đánh răng, và trong một số ngành kỹ nghệ khác.
13. Cách dùng, liều lượng:
Dùng dưới dạng thuốc xông, thuốc hãm 12-20g mỗi ngày.
14. Bài thuốc:
14.1. Cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, dùng Bạc hà 5g, hạt Quan âm, Cúc hoa vàng mỗi vị đều 10g. Kinh giới 7g, Kim ngân hoa 15g, sắc uống.
14.2. Ðau họng: Dùng Bạc hà 5g, Ngưu bàng, Huyền sâm, Cát cánh, Cam thảo mỗi vị 10g sắc uống.
Ghi chú: Phụ nữ cho con bú không nên dùng nhiều, vì nó giảm sự tiết sữa. Húng cây - Mentha arvensis L.var, javanica (Blume) Hook, là một thứ của Bạc hà thường trồng vì lá thơm, cũng dùng làm thuốc. Nó có vị cay tính ấm, có tác dụng thông phế khí, giải ban, tán hàn, giải biểu, thông thần kinh.

LÔ HỘI ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VỀ DA

- Lô hội từ lâu được dùng trong các công thức chăm sóc sắc đẹp, nhưng ngoài việc sử dụng qua các mỹ phẩm, bạn cũng có thể dùng lô hội tươi để làm đẹp và hoàn toàn yên tâm về công dụng của nó.

 Lô hội được yêu thích không chỉ bởi những lợi ích làm đẹp phong phú của nó mà còn vì nó có thể được chế biến rất đơn giản và vẫn bảo đảm đặc tính vốn có của mình.
Dưỡng ẩm
Trong lô hội có chứa rất nhiều chất làm ẩm, vậy nên chẳng có gì lạ khi bạn sử dụng chúng như một loại gel dưỡng ẩm thiên nhiên cho mặt và cơ thể. Trong thực tế, đây là một trong những công dụng được yêu thích nhất của lô hội bởi chúng hầu như hợp với mọi loại da, lại không có sự tác động của hóa chất vậy nên nó rất được các chị em tin tưởng sử dụng. Sẽ rất hoàn hảo và không tốn kém nếu bạn sử dụng nó theo chức năng của kem dưỡng ẩm. Khi được bôi, làn da sẽ hấp thụ nhanh chóng những dưỡng chất của cây lô hội. Lô hội cũng được sử dụng để trị mụn.
làm đẹp, lô hội
Thu nhỏ lỗ chân lông
Dịch từ lá lô hội rất giàu dinh dưỡng. Theo ước tính, chúng có 19 axit amin thiết yếu, vitamin nhóm B như B12, vitamin C, E & khoáng chất như sắt, canxi, lecithin, Magiê, Natri Kali, Mangan và kẽm. Lô hội có tính chất tương tự như chất làm se da, vì vậy khi thoa chúng trên khuôn mặt bạn, nó có thể làm giảm sự xuất hiện của lỗ và làm thu nhỏ lỗ chân lông, giúp da mịn màng hơn.
Xóa sổ mụn trứng cá
Lô hội có khả năng tiêu diệt mụn và các tế bào chết, thu hẹp các lỗ chân lông và cho bạn một làn da săn chắc. Hãy dùng lô hội bôi ngay vào nốt mụn khi phát hiện ra nó, để ức chế quá trình phát triển. Ngoài ra, nếu bạn bị sẹo do mụn, hãy thoa lô hội vào đó để nhanh liền sẹo.
lô hội, làm đẹp, dưỡng da, trị mụn
Chống lại nếp nhăn
Dùng 100 gam lô hội (tương đương với 2 - 3 lá lôi hội lớn), cắt bỏ lớp vỏ bên ngoài, xắt thành những miếng nhỏ, sau đó cho vào nồi đun cùng 1 lít nước, đun sôi khoảng 5 phút. Sau đó bắc xuống khỏi bếp, để nguội. Cho vào tủ lạnh để bảo quản dùng dần. Mỗi lần dùng bạn hãy thoa đều dung dịch này lên da.
Khắc phục làn môi khô nẻ
Đôi môi khô nẻ trông sẽ rất phản cảm, làm giảm đi vẻ gợi cảm, hãy khắc phục bằng cách dùng nhựa của lá lô hội thoa đều lên đôi môi khô nẻ. Một ngày có thể thực hiện một vài lần, bạn sẽ thấy kết quả như ý muốn.
Tẩy tế bào chết
Bạn có thể kết hợp khả năng làm da tươi trẻ và làm mịn da của lô hội với lợi ích tẩy tế bào chết có trong bột yến mạch hoặc dâu tây để chăm sóc toàn diện choda. Loại mặt nạ tẩy tế bào chết làm da tươi trẻ này không chỉ có tác dụng dưỡng ẩm, làm sạch da mà còn chống lại được nếp nhăn nông sâu khác nhau. Bạn cần có gel lô hội, dâu tây nghiền nhuyễn và hạnh nhân nghiền nhuyễn. Bôi hỗn hợp lên da, massage nhẹ nhàng trong khoảng 5 phút rồi rửa sạch. Sau khi chăm sóc da với mặt nạ này, bạn sẽ cảm nhận một làn da mịn màng, mềm mại và tươi trẻ.
dưỡng da, lô hội, nha đam, trị mụn
Làm đẹp và dài móng nhanh
Những nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của lá lô hội không chỉ giúp móng tay phát triển nhanh hơn chỉ trong một thời gian ngắn mà còn khiến móng tay không bị gãy và bóng đẹp.
 Gel cạo
Nếu từng sử dụng lô hội tươi, hẳn bạn biết ruột lá lô hội có cấu tạo trong suốt, mềm, đặc và mát. Chính điều này đã giúp lô hội thường được sử dụng như các loại gel. Và nếu bạn đang khổ sở vì lông, hãy sử dụng lô hội như một loại gel dưỡng ẩm, bôi lên da trước khi cạo. Chúng sẽ giúp da bạn mướt hơn, giúp việc cạo lông trở nên dễ dàng cũng như cung cấp chất ẩm giúp da luôn mềm sau khi cạo.
lô hội, nha đam, trị mụn, dưỡng da
Tẩy trang vùng mắt
Nghe thì có vẻ lạ lùng, nhưng đây là một trong những công dụng tuyệt nhất của lô hội. Sau một ngày dài mệt mỏi với lớp trang điểm dày, bạn hãy lấy một miếng bông hoặc cotton, thấm vào phần ruột lá lô hội rồi xoa nhẹ lên mặt hoặc mắt. Tinh chất làm ẩm, làm sạch da có trong lá lô hội tươi sẽ giúp da bạn được sạch, mát và mịn hơn sau khi sử dụng.
Dầu xả
Lợi ích lô hội không chỉ dừng lại ở làn da, nó còn có tác dụng cho mái tóc. Lấy một lá lô hội, gọt bỏ phần lá xanh bên ngoài để lấy phần gel bên trong, sau đó bôi chúng lên tóc và xoa đều da đâu để hấp thu dưỡng chất.
Dưỡng tóc
Những công dụng của lô hội không chỉ dừng lại ở da, khi được áp dụng lên tóc, nó cũng mang tới những điều thần kỳ tương tự. Lấy một lá lô hội, cắt nó ra, xoa nhẹ lên da dầu. Tiếp đó, xoa đều dầu xả bạn vẫn thường dùng lên tóc rồi xả lại với nước sạch và bạn sẽ có được một mái tóc mềm, nhẹ nhàng với da đầu khỏe mạnh. Lô hội cũng có thể được sử dụng để làm mềm tóc xoăn, rối trước khi bạn sấy tóc.
lô hội, dưỡng tóc, nha đam, mọc tóc
Tăng khả năng mọc tóc
Một trong những tác dụng của lô hội là giúp mái tóc mọc dài nhanh. Tất cả những gì bạn cần làm là dùng chất gel trong lá lô hội tươi, xoa bóp với tóc trong khoảng 30 phút rồi xả sạch. Lô hội giúp làm thoáng nang lông, cân bằng độ pH và tăng độ ẩm cho tóc, từ đó khiến tóc dễ mọc và mọc nhanh hơn. Thậm chí, người Ai Cập cổ đại đã từng sử dụng lô hội để chăm sóc và cung cấp chất dưỡng cho mái tóc được phát triển một cách khỏe mạnh.
Chăm sóc răng miệng
Nếu việc điều trị với nha sĩ chưa cho bạn được kết quả như ý, hãy thử hỏi ý kiến nha sĩ và sử dụng gel từ lá lô hội thay vì các loại thuốc và kem mỡ bôi nướu. Lô hội đã được ghi nhận là có khả năng làm trắng răng tự nhiên, chống hôi miệng, chống bệnh sâu răng, các bệnh về nướu.

13 CÁCH LÀM ĐẸP BẰNG NHA ĐAM

- Lô hội từ lâu được dùng trong các công thức chăm sóc sắc đẹp, nhưng ngoài việc sử dụng qua các mỹ phẩm, bạn cũng có thể dùng lô hội tươi để làm đẹp và hoàn toàn yên tâm về công dụng của nó.

 Lô hội được yêu thích không chỉ bởi những lợi ích làm đẹp phong phú của nó mà còn vì nó có thể được chế biến rất đơn giản và vẫn bảo đảm đặc tính vốn có của mình.
Dưỡng ẩm
Trong lô hội có chứa rất nhiều chất làm ẩm, vậy nên chẳng có gì lạ khi bạn sử dụng chúng như một loại gel dưỡng ẩm thiên nhiên cho mặt và cơ thể. Trong thực tế, đây là một trong những công dụng được yêu thích nhất của lô hội bởi chúng hầu như hợp với mọi loại da, lại không có sự tác động của hóa chất vậy nên nó rất được các chị em tin tưởng sử dụng. Sẽ rất hoàn hảo và không tốn kém nếu bạn sử dụng nó theo chức năng của kem dưỡng ẩm. Khi được bôi, làn da sẽ hấp thụ nhanh chóng những dưỡng chất của cây lô hội. Lô hội cũng được sử dụng để trị mụn.
làm đẹp, lô hội
dưỡng ẩm da
Thu nhỏ lỗ chân lông
Dịch từ lá lô hội rất giàu dinh dưỡng. Theo ước tính, chúng có 19 axit amin thiết yếu, vitamin nhóm B như B12, vitamin C, E & khoáng chất như sắt, canxi, lecithin, Magiê, Natri Kali, Mangan và kẽm. Lô hội có tính chất tương tự như chất làm se da, vì vậy khi thoa chúng trên khuôn mặt bạn, nó có thể làm giảm sự xuất hiện của lỗ và làm thu nhỏ lỗ chân lông, giúp da mịn màng hơn.
Xóa sổ mụn trứng cá
Lô hội có khả năng tiêu diệt mụn và các tế bào chết, thu hẹp các lỗ chân lông và cho bạn một làn da săn chắc. Hãy dùng lô hội bôi ngay vào nốt mụn khi phát hiện ra nó, để ức chế quá trình phát triển. Ngoài ra, nếu bạn bị sẹo do mụn, hãy thoa lô hội vào đó để nhanh liền sẹo.
lô hội, làm đẹp, dưỡng da, trị mụn
xoa mụn trứng cá
Chống lại nếp nhăn
Dùng 100 gam lô hội (tương đương với 2 - 3 lá lôi hội lớn),x cắt bỏ lớp vỏ bên ngoài, xắt thành những miếng nhỏ, sau đó cho vào nồi đun cùng 1 lít nước, đun sôi khoảng 5 phút. Sau đó bắc xuống khỏi bếp, để nguội. Cho vào tủ lạnh để bảo quản dùng dần. Mỗi lần dùng bạn hãy thoa đều dung dịch này lên da.
Khắc phục làn môi khô nẻ
Đôi môi khô nẻ trông sẽ rất phản cảm, làm giảm đi vẻ gợi cảm, hãy khắc phục bằng cách dùng nhựa của lá lô hội thoa đều lên đôi môi khô nẻ. Một ngày có thể thực hiện một vài lần, bạn sẽ thấy kết quả như ý muốn.
Tẩy tế bào chết
Bạn có thể kết hợp khả năng làm da tươi trẻ và làm mịn da của lô hội với lợi ích tẩy tế bào chết có trong bột yến mạch hoặc dâu tây để chăm sóc toàn diện choda. Loại mặt nạ tẩy tế bào chết làm da tươi trẻ này không chỉ có tác dụng dưỡng ẩm, làm sạch da mà còn chống lại được nếp nhăn nông sâu khác nhau. Bạn cần có gel lô hội, dâu tây nghiền nhuyễn và hạnh nhân nghiền nhuyễn. Bôi hỗn hợp lên da, massage nhẹ nhàng trong khoảng 5 phút rồi rửa sạch. Sau khi chăm sóc da với mặt nạ này, bạn sẽ cảm nhận một làn da mịn màng, mềm mại và tươi trẻ.
dưỡng da, lô hội, nha đam, trị mụn
tẩy tế bào chết
Làm đẹp và dài móng nhanh
Những nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của lá lô hội không chỉ giúp móng tay phát triển nhanh hơn chỉ trong một thời gian ngắn mà còn khiến móng tay không bị gãy và bóng đẹp.
 Gel cạo
Nếu từng sử dụng lô hội tươi, hẳn bạn biết ruột lá lô hội có cấu tạo trong suốt, mềm, đặc và mát. Chính điều này đã giúp lô hội thường được sử dụng như các loại gel. Và nếu bạn đang khổ sở vì lông, hãy sử dụng lô hội như một loại gel dưỡng ẩm, bôi lên da trước khi cạo. Chúng sẽ giúp da bạn mướt hơn, giúp việc cạo lông trở nên dễ dàng cũng như cung cấp chất ẩm giúp da luôn mềm sau khi cạo.
lô hội, nha đam, trị mụn, dưỡng da
dùng kem dương da lô hội
Tẩy trang vùng mắt
Nghe thì có vẻ lạ lùng, nhưng đây là một trong những công dụng tuyệt nhất của lô hội. Sau một ngày dài mệt mỏi với lớp trang điểm dày, bạn hãy lấy một miếng bông hoặc cotton, thấm vào phần ruột lá lô hội rồi xoa nhẹ lên mặt hoặc mắt. Tinh chất làm ẩm, làm sạch da có trong lá lô hội tươi sẽ giúp da bạn được sạch, mát và mịn hơn sau khi sử dụng.
Dầu xả
Lợi ích lô hội không chỉ dừng lại ở làn da, nó còn có tác dụng cho mái tóc. Lấy một lá lô hội, gọt bỏ phần lá xanh bên ngoài để lấy phần gel bên trong, sau đó bôi chúng lên tóc và xoa đều da đâu để hấp thu dưỡng chất.
Dưỡng tóc
Những công dụng của lô hội không chỉ dừng lại ở da, khi được áp dụng lên tóc, nó cũng mang tới những điều thần kỳ tương tự. Lấy một lá lô hội, cắt nó ra, xoa nhẹ lên da dầu. Tiếp đó, xoa đều dầu xả bạn vẫn thường dùng lên tóc rồi xả lại với nước sạch và bạn sẽ có được một mái tóc mềm, nhẹ nhàng với da đầu khỏe mạnh. Lô hội cũng có thể được sử dụng để làm mềm tóc xoăn, rối trước khi bạn sấy tóc.
lô hội, dưỡng tóc, nha đam, mọc tóc
gội đầu với lô hội
Tăng khả năng mọc tóc
Một trong những tác dụng của lô hội là giúp mái tóc mọc dài nhanh. Tất cả những gì bạn cần làm là dùng chất gel trong lá lô hội tươi, xoa bóp với tóc trong khoảng 30 phút rồi xả sạch. Lô hội giúp làm thoáng nang lông, cân bằng độ pH và tăng độ ẩm cho tóc, từ đó khiến tóc dễ mọc và mọc nhanh hơn. Thậm chí, người Ai Cập cổ đại đã từng sử dụng lô hội để chăm sóc và cung cấp chất dưỡng cho mái tóc được phát triển một cách khỏe mạnh.
Chăm sóc răng miệng
Nếu việc điều trị với nha sĩ chưa cho bạn được kết quả như ý, hãy thử hỏi ý kiến nha sĩ và sử dụng gel từ lá lô hội thay vì các loại thuốc và kem mỡ bôi nướu. Lô hội đã được ghi nhận là có khả năng làm trắng răng tự nhiên, chống hôi miệng, chống bệnh sâu răng, các bệnh về nướu.

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

LƯỢC VÀNG CÂY THUỐC QUÝ CỦA ĐÔNG Y

Lược vàng - cây cảnh hay “thần dược”?


Cây lược vàng bắt đầu được sử dụng làm thuốc ở Thanh Hóa cách nay khoảng hơn chục năm, dựa trên những tài liệu có xuất xứ từ Nga. Từ năm 2007 “cơn sốt lược vàng” bắt đầu bùng phát ở Thanh Hóa, sau đó lan truyền ra nhiều tỉnh và thành phố, từ Bắc chí Nam, cho tới ngày hôm nay, cơn sốt đó vẫn chưa hạ nhiệt. Hiện đang tồn tại hai quan điểm về tác dụng của vị thuốc này. Quan điểm thứ nhất cho rằng, lược vàng là một loại “thần dược”, có thể chữa trị rất nhiều loại bệnh tật, thậm chí cả một số bệnh thuộc loại nan y... Quan niệm thứ hai cho rằng tác dụng chữa bệnh của lược vàng chẳng có gì đặc biệt, thậm chí có người còn cho rằng, lược vàng chỉ là một loại cây cảnh, không thể coi đó là cây thuốc, vì không có tác dụng chữa bệnh... Vì vậy, trên thực tế, cây lược vàng có tác dụng gì? Để trả lời câu hỏi đó, tốt nhất có lẽ nên tìm hiểu tình hình sử dụng vị thuốc này ở Nga.

lược vàng cây thuốc quý

Cây “lược vàng” có xuất xứ từ Trung và Nam Mỹ. Tên khoa học là Callisia fragrans (Lind), thuộc học Commelinaceace (thài lài), do nhà khoa học Mỹ R.E Woodson xác định từ năm 1942. Lược vàng bắt đầu được trồng làm cảnh ở Nga từ hơn 100 năm trước. Tại Nga, cây có tên thông dụng là “Dôlôtôi us” có nghĩa là “sợi râu vàng”. Nếu như ở nước ta, lược vàng còn được gọi bằng những tên khác như “lan vòi”, “cây bạch tuộc”, “trai lá phất dũ”, “giả khóm”... thì ở Nga, cây cũng có nhiều tên khác nhau, như “ka-li-di-a thơm”, “sâm nhà”, “vệ nữ”, “bác sĩ gia đình”... Một chi tiết đáng lưu ý là, tại Nga cây phát triển không được tốt như ở nước ta; nếu được chăm sóc tốt, cây mới ra hoa và mọc ra “dôlôtôi us” (sợi râu vàng).
Nghiên cứu cơ bản
Từ những năm giữa thế kỷ 20, một số nhà khoa học Mỹ và Canada đã phát hiện: những loài cây thuộc họ Commelinaceae (trong đó có cây lược vàng), chứa nhiều loại hoạt chất sinh học, có khả năng kiềm chế sự phát triển của các khối u. Ở Nga, các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của lược vàng được tiến hành tại Đại học Y khoa thành phố Irkyt, từ những năm 80, thế kỷ trước, dưới sự chỉ đạo của GS. Semenov, một nhà khoa học rất nổi tiếng. Kết quả nghiên cứu nhiều năm ở Irkyt cho thấy: Trong cây lược vàng có một số hoạt chất sinh học thuộc nhóm flavonoid và steroid thực vật. Ngoài ra, trong cây còn có sắt, đồng, crôm... những nguyên tố có tác dụng quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể. Hai chất thuộc nhóm flavonoid được phát hiện là: kvercitin và kempferol. Lvercitin có hoạt tính giống như vitamin P và là chất chống ôxy hóa, có tác dụng lợi tiểu và chống co giật. Có thể sử dụng trong điều trị dị ứng, chảy máu nội tạng, viêm thận, viêm khớp, cũng như một số bệnh tim mạch, mắt và nhiễm trùng, Kempferol có tác dụng làm tăng độ bền của mạch máu, an thần, chống viêm, lợi tiểu mạnh – giúp cơ thể bài tiết các chất độc hại ra ngoài. Có thể sử dụng để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dị ứng, rối loạn chức năng bài tiết nước tiểu. Các steroid có trong thực vật được gọi là các fitosterol. Chúng có hoạt tính tương tự nội tiết tố sinh dục, còn có tác dụng diệt khuẩn, chống xơ vữa động mạch và kiềm chế sự phát triển của các khối u. Có thể ứng dụng trong điều trị một số dạng ung thư, cũng như các bệnh tuyến tiền liệt, bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa.
Tuy nhiên, cùng với những tác dụng có lợi nói trên, các nhà khoa học Nga còn nhận thấy, lược vàng cũng là vị thuốc dễ gây tác dụng phụ, như gây tổn thương thanh quản, dị ứng nổi ban đỏ, phù nề tứ chi, phù toàn thân... Các phản ứng phụ đó hay gặp nhất ở những người có khả năng miễn dịch yếu và có cơ địa dị ứng. Chính những nhược điểm đó đã hạn chế việc mở rộng ứng dụng lược vàng trên lâm sàng. Quan điểm y học cho rằng: chỉ có thể sử dụng lược vàng để chữa bệnh sau khi được chuyên gia tư vấn. Có thể cũng vì vậy, trong các sách về y học dân gian Nga, các sách tra cứu hay các từ điển lớn về thảo dược ở Nga, xuất bản trong thời Liên Xô cũ đều không thấy đề cập đến vị thuốc này.
Ứng dụng thực tế
Trong khi giới khoa học ở Nga còn đang do dự, thì lược vàng đã được các thầy thuốc thực hành sử dụng rộng rãi. Trên lâm sàng, lược vàng được sử dụng chữa các bệnh dạ dày – ruột, bệnh túi mật, lá lách; các bệnh đường hô hấp như ho, viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản; các bệnh đường tiết niệu; các bệnh ngoài da như viêm da, zona, chàm... Thuốc chế từ “lược vàng” có tác dụng giảm đau, chống nóng rát, giúp vết thương chóng lành... Ngoài ra, còn có tác dụng nhất định đối với ung thư, chống nghiện rượu và nghiện thuốc lá.
dùng tinh dầu lược vàng điều trị bách bệnh
Tại Nga, cây lược vàng hiện đang được ứng dụng rất rộng rãi. Do đó nếu lên mạng, vào một website tìm kiếm thông tin nào đó, gõ từ “dôlôtôi us” bằng tiếng Nga, bạn sẽ tìm thấy hàng chục tên sách và hàng trăm bài báo có nội dung liên quan tới vị thuốc này. Trong số các bộ sách, có một cuốn có số lượng phát hành rất lớn như “Lược vàng – Những đơn thuốc tốt nhất” của S.Anastasia; sách tra cứu “Lược vàng – từ A đến Z – những đơn thuốc thần kỳ”, “Lược vàng trong chữa trị căn bệnh thế kỷ” của V.Ogarkov; “Lược vàng và sex”, “Lược vàng – tất cả những điều đã biết và chưa biết” của A.Korzinova... Phần lớn các sách về lược vàng ở Nga đều do các thầy thuốc chuyên nghiệp, có bằng cấp, học vị đàng hoàng chắp bút. Trong số đó, cuốn “Thần thoại và sự thật về cây lược vàng” của GS. I.P.Neumưvakin... được xem như cuốn sách đầy đủ và khách quan nhất. Cùng với sách báo, các loại thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, với lược vàng là dược liệu chính, cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều.
Một điều cần nhấn mạnh là, tuy các thầy thuốc lâm sàng ở Nga coi lược vàng là một vị thuốc quý, nhưng họ không coi đó là “thần dược”. Thí dụ, tại địa chỉ www.callisia.org, chuyên giới thiệu về cách sử dụng lược vàng để chữa bệnh, các chuyên gia cũng đã cảnh báo (dịch nguyên văn): “Cần nhớ rằng, trên đời không tồn tại loại thuốc vạn năng và không có một phương tiện y học hiện đại hay y học dân gian nào có khả năng chữa khỏi tất cả các loại bệnh. Do đó, đối với các đơn thuốc dân gian, cần có một thái độ thận trọng; chỉ có thể chỉ định cho bệnh nhân một loại thảo dược nào đó, kể cả lược vàng, sau khi tư vấn với bác sĩ điều trị.
Bản thân các thầy thuốc dân gian, những người đang ứng dụng và xây dựng các đơn thuốc từ cây lược vàng cũng nhận định: lược vàng không phải là phương tiện vạn năng. Tác dụng chữa bệnh của nó vẫn còn đang được tiến hành nghiên cứu. Vì vậy chưa có gì bảo đảm là lược vàng có thể chữa khỏi được hoàn toàn một bệnh nào đó”.

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

HOÀNG KỲ VÀ CÁC BỆNH ĐAU ĐẦU



học cổ truyền cho rằng, đau đầu có nhiều chứng, hoặc vì âm hư, hoặc vì dương hư, hoặc vì khí huyết hư, hoặc vì phong đờm, hỏa.

Có khi đau ở giữa, khi đau hai bên, trước trán, phía sau, đau thiên về một bên... Cần phân biệt cho rành thì chữa mới có thể khỏi được, chứ không đơn giản uống thuốc giảm đau là hết. Y học cổ truyền chia ra làm nhiều thể đau đầu như:
Âm hư đầu thống
Chứng này thường đau rải rác quanh năm, có lúc lại như không đau, là vì thận thủy kém, hỏa tà xông lên, nên dùng bài thuốc “tư âm giáng hỏa”, gồm: thục địa, ngọc trúc (đều 40g), thù nhục 16g, hoài sơn, huyền sâm, xuyên khung (đều 12g), mạch môn 9g, ngũ vị 8g. Đem sắc với 3 chén nước còn nửa chén, uống lúc ấm trước khi ăn, thuốc sắc 3 lần, uống như nhau. Mới uống thang đầu, đầu càng đau thêm, phải uống đến thang thứ hai thì mới đỡ.
hoàng kỳ sấy khô






Khí hư đầu thống
Chứng này đau đầu về bên phải, thì dùng bài gồm các vị: hoàng kỳ (sao mật) 16g, nhân sâm, bạch truật, trần bì, đương quy, xuyên khung, cao bản, chích cam thảo, thăng ma, hoàng bá, tế tân (mỗi vị 12g) và bán hạ 12g (tẩm nước gừng sao). Đem sắc với cùng với 3 lát gừng sống, sắc uống như các bài thuốc trên.
phòng phong
Huyết hư đầu thống
Chứng này thường đau về bên trái, là vì huyết hư thuộc về phong, ban đêm lại càng đau nặng, nên dùng bài gồm các vị: đương quy, xuyên khung, bạch thược, sinh địa, hoàng cầm, mạn kinh, sài hồ, phòng phong, cao bản (mỗi vị 12g), hương phụ chế 8g. Sắc uống như các bài thuốc trên.

KIM NGÂN HOA VÀ MỘT SỐ ỨNG DỤNG VÀO ĐÔNG Y



Kim ngân là loại dây leo, hoa, lá, cành đều được dùng làm thuốc nhưng người ta thường tách hoa để làm thuốc riêng vì cho rằng hoa kim ngân có công hiệu hơn lá, cành. Kim ngân có vị ngọt, tính hàn, không độc, vào 4 kinh: phế, vị, tâm, tỳ; có công năng thanh nhiệt, giải độc dùng chữa cảm sốt, lở ngứa, mụn nhọt, ác sang, đinh độc…


Theo kinh nghiệm dân gian, kim ngân hoa được coi là thánh dược trong việc chữa trị lở ngứa, mụn nhọt, ác sang, thũng độc kể cả đinh độc. Do tính hàn lương (mát) nên có thể đun nước như nước chè, nước vối để uống. Tuy nhiên do tính hàn nên người tỳ vị hư hàn khi dùng phải thận trọng. Lượng dùng thông thường khoảng 10~15 g. Theo các nghiên cứu dược lý cho thấy, kim ngân hoa có khả năng ức chế với rất nhiều chủng vi sinh vật gây bệnh, có tác dụng kháng viêm, giải nhiệt, giảm mỡ máu, tăng cường khả năng phòng ngự của hệ miễn dịch …
những ứng dụng lân sàng mới của kim ngân hoa




Sau đây là những ứng dụng lâm sàng mới được báo cáo nhưng cũng cần thời gian nghiên cứu chuyên sâu hơn để áp dụng đại trà.
Điều trị viêm đường ruột mạn tính:

Bài thuốc: Kim ngân hoa 60 g, anh túc xác 10g.

Cách chế: Kim ngân hoa phơi khô, tán nhỏ thành bột mịn. Anh túc xác thêm 2 bát nước sắc cho đến khi còn khoảng 1 bát, rồi cho 10g bột kim ngân hoa ngâm vào trong bát đó, mỗi ngày 3 lần. Uống 1 đến 2 ngày thấy hiệu quả. (Thận trọng với các trường hợp bệnh nhân Tăng huyết áp, bệnh mạch vành).
hoa anh túc


Phương thuốc trên đã điều trị cho hơn 30 trường hợp viêm đường tiêu hóa mạn tính, hiệu quả trên 80%.
Viêm thận:

Bài thuốc Bạch kim ích thận thang: Kim ngân hoa, bạch mao căn, ích mẫu thảo mỗi loại 30g; trúc diệp 10g.

Cách chế: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

Bài thuốc này áp dụng cho 44 trường hợp Viêm thận dạng phong nhiệt, 8 trường hợp viêm thận dạng thấp nhiệt. Thông thường sau khi uống 3~20 thang, các triệu chứng như phù thũng giảm triệt để, các chỉ số nước tiểu trở về âm tính, huyết áp trở vệ trị số bình thường.
3. Viêm gan mạn tính:

Bài thuốc: Nhẫn đông đằng, bạch mao căn mỗi loại 60g, thổ phục linh, huyền sâm, sinh hoàng kỳ mỗi loại 30g, đương quy, thăng ma mỗi loại 15g, cam thảo sống 10g.

Cách chế: sắc uống ngày 1 thang, 1 tháng là 1 liệu trình.
hoàng kỳ

Áp dụng bài thuốc trên với 33 trường hợp viêm gan mạn có 25 trường hợp hiệu quả rõ rệt, 6 trường hợp có cải thiện, 2 trường hợp không hiệu quả. Tổng hiệu quả 94%.

TÁC DỤNG CÂY BỒ CÔNG ANH

Loại cây này còn có tên là rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi. Theo y học cổ truyền, bồ công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chữa các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm dạ dày – tá tràng, viêm gan, viêm họng..


 1. Bồ công anh là gì?

Bồ công anh (Taraxacum) là loài thuộc ngành thực vật có hoa, họ Cúc (Asteraceae), có nguồn gốc từ các khu vực ôn đới của Bắc Bán cầu trong Cựu Thế giới.
Bồ công anh hay rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mót mét, mũi mác, diếp trời, rau mũi cày (danh pháp khoa học: Pterocypsela indica, đồng nghĩa: Lactuca indica L., Lactuca indica f. indivisa (Maxim.) H. Hara, Lactuca indica f. runcinata (Maxim.) Kitam.), là một loài cây thân thảo thuộc họ Cúc (Asteraceae), sống một năm hoặc hai năm, không lông.
bo cong anh
cây bồ công anh
- Thân cao 60-200 cm, đơn hoặc chẻ nhánh ở phần trên. Các lá phía dưới không lông; thuôn dài hay hình mũi mác, kích thước 13-25×1,5-11 cm, đỉnh lá nhọn, không cuống hay cuống ngắn, mép lá nhẵn hoặc xẻ thùy hoặc răng cưa thô to, mặt trên xanh lục, mặt dưới xanh xám. Các lá ở phần giữa dài 10-24 cm, thẳng hay mũi mác, nhọn đỉnh, không xẻ thùy, mép lá có khía răng cưa. Các lá trên nhỏ hơn và thẳng. Cụm hoa kiểu chùy hình trụ hẹp, dài 20-40 cm. Đầu cụm hoa rộng khoảng 2 cm; cuống dài 10-25 mm, mọc thẳng.

 

2. Tác dụng của bồ công anh

Một số bài thuốc nam thường dùng bồ công anh trong dân gian:

- Mắt đau sưng đỏ: Bồ công anh 40 g, dành dành 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm tuyến vú, tắc tia sữa: Bồ công anh 30-50 g tươi, giã nát vắt lấy nước cốt uống, bã đắp lên vú.
- Mụn nhọt: Bồ công anh 40 g, bèo cái 50 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm họng: Bồ công anh 40 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g, cam thảo 5 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm phổi, phế quản: Bồ công anh 40 g, vỏ rễ dâu 20 g, hạt tía tô 10 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Viêm gan virus: Bồ công anh 30 g, nhân trần 20 g, chó đẻ răng cưa (kiềm vườn) 20 g, rau má 30 g, cam thảo nam 20g. Sắc uống ngày một thang.